mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nƣớc về du lịch. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch và quản lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH 1.
Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Du lịch Theo Towner và Wall [25], du lịch đã đƣợc hình thành và phát triển từ rất lâu, cách đây khoảng 2000 năm, từ thời Đế quốc La Mã khi những gia đình giàu có quyết định giành thời gian mùa hè ở những bãi biển và đồng quê cách xa nơi họ sinh sống. Thời trung cổ do sự phát triển của các cuộc hành hƣơng (tôn giáo), các nhà tổ chức đã thu xếp việc ăn, nghỉ cho ngƣời hành hƣơng, có nhiều bằng chứng cho thấy ngƣời hành hƣơng đã thƣ giãn, hƣởng thụ trong chuyến đi về thánh địa. Vào thế kỷ 17, du lịch phát triển bùng nổ khi ngƣời giàu có thƣờng đi Spa và khu nghỉ dƣỡng (resort) tại bờ biển vào mùa hè; những ngƣời Châu âu đi tắm nƣớc nóng, hƣởng không khí trong lành; ngƣời Anh, dành kỳ nghỉ học để đến những nƣớc nhƣ Ý (Italia) học vẽ, điêu khắc, kiến trúc, và tham quan những di tích lịch sử.
Cho đến thời kỳ công nghiệp hóa, du lịch nghỉ dƣỡng bùng nổ lên khi các tầng lớp trung lƣu có nhiều thời gian rảnh rỗi, những thƣơng nhân bắt đầu xây dựng khách sạn du lịch, du lịch quốc tế bắt đầu hình thành, du lịch tiếp tục đƣợc yêu thích và thành công cho đến đầu thế kỷ 19. Đến những năm 1960, khi nhiều ngƣời co thu nhập dƣ, sự phát triển của ngành hàng không dân dụng đã giúp ngành du lịch phát triển đột phá, nhiều cơ sở du lịch đƣợc mở ra, các khu nghỉ dƣỡng, công viên đƣợc xây dựng. Từ đó đến nay, ngành du lịch đã dần trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nhiều quốc gia với đóng góp ngày càng cao vào nền kinh tế. Du lịch ở Việt Nam đã có xuất hiện từ lâu.
Trong thời kỳ phong kiến đã có các cuộc săn bắn, dã ngoại, kinh lý sang nƣớc láng giềng của các vua chúa, 7 quan lại; đi thăm viếng bạn bè của các nho sỹ và gia đình giàu có. Đến bây giờ còn nhiều bài thơ nổi tiếng, truyền thuyết dân gian kể lại, di tích, di vật lịch sử chứng minh về các chuyến đi của vua chúa, danh nhân và ngƣời dân ta sớm tham gia hoạt động du lịch. Mặc dù du lịch đã đƣợc xuất hiện và phát triển từ lâu, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng nhƣ trong đời sống xã hội nhƣng việc định nghĩa, khái niệm về du lịch vẫn còn nhiều sự khác nhau. Sự khác nhau này có thể do nhu cầu, do điều kiện kinh tế, xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn là khác nhau.
Du lịch trong tiếng Anh là “tourism”, theo từ điển tiếng Anh Oxford, tourism có nhiều nghĩa gồm: chuyến đi để thƣ giãn hoặc kinh doanh; các hoạt động thực hành dạo chơi, hoạt động thu hút, hỗ trợ và làm vui khách du lịch; những hoạt động điều hành các chuyến dạo chơi [24]. Theo nghĩa Hán Việt, du có nghĩa là chuyến đi xa (nhƣ du học, du xuân.); lịch có nghĩa là từng trải, hiểu biết. Vậy du lịch có nghĩa là chuyến đi xa để có kiến thức, thêm hiểu biết. Tổ chức Du lịch thế giới [28] định nghĩa: Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế, văn hóa, xã hội bắt đầu từ sự di chuyển của con ngƣời tới đất nƣớc hoặc nơi khác ngoài nơi ở quen thuộc của họ vì mục đích cá nhân hay nghề nghiệp/ làm ăn.
Ở Việt Nam, khái niệm về du lịch đã đƣợc giải thích trong Luật Du lịch [20] nhƣ sau: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Nhƣ vậy có thể khái quát, giải thích khái niệm về du lịch nhƣ sau: 8 - Mục đích của du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng, tìm hiểu văn hóa, kiến thức, nghiên cứu thị trƣờng, hoặc kết hợp với làm ăn nhƣng vì mục đích định cƣ. - Về không gian: Du lịch là đi đến nơi khác ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên. - Về thời gian: Chuyến du lịch diễn ra trong thời gian ngắn, mang tính tam thời.
Hoạt động du lịch Trƣớc đây, hoạt động du lịch đƣợc coi là một hoạt động mang tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con ngƣời, nó không đƣợc coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít đƣợc đầu tƣ phát triển. Ngày nay, du lịch đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới xem là một ngành kinh tế quan trọng thì quan niệm hoạt động du lịch đƣợc hiểu một cách đầy đủ hơn. Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lƣu niệm và các hàng hóa… các dịch vụ này đƣợc coi là hoạt động du lịch. Luật Du lịch [20] đƣa ra khái niệm về hoạt động du lịch nhƣ sau: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch”.
Nhƣ vậy, hoạt động du lịch là đƣợc chia thành hoạt động của 3 nhóm đối tƣợng tham gia gồm khách du lịch; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cƣ có liên quan đến du lịch. - Hoạt động của khách du lịch là việc di chuyển tam thời của khách du lịch ra khỏi nơi cƣ trú của họ nhằm mục đích tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. 9 - Hoạt động của các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch là các hoạt động kinh doanh lƣu trú, lữ hành, vận tải khách du lịch, hƣớng dẫn du lịch, các dịch vụ khác (ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe. - Hoạt động của các cơ quan,tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cƣ có liên quan bao gồm các hoạt động quản lý nhà nƣớc, của các hiệp hội du lịch và các tổ chức liên quan tại địa phƣơng du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của khách du lịch và du khách; hoạt động của cộng đồng dân cƣ liên quan đến bảo tồn các giá trị văn hóa, ẩm thực.
thu hút, hấp dẫn khách du lịch. Nhƣ vậy, hoạt động du lịch đƣợc tiếp cận gồm các hoạt động trực tiếp, gián tiếp phục vụ cho du lịch. Xét một khía cạnh khác có thể coi hoạt động du lịch là khái niệm ngành du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật nhà nƣớc để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Theo đó, quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây: - Trước hết, chủ thể quản lý nhà nƣớc là các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc, gồm: lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. - Thứ hai, đối tƣợng quản lý của Nhà nƣớc là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. - Thứ ba, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm ngƣời trong xã hội, quản lý nhà nƣớc diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. 10 - Thứ tư, quản lý nhà nƣớc mang tính quyền lực nhà nƣớc, sử dụng công cụ pháp luật nhà nƣớc để quản lý xã hội.
- Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nƣớc là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Vai trò của nhà nƣớc trong quản lý du lịch và ảnh hƣởng của chính sách công đối với phát triển du lịch đã đƣợc nghiên cứu bởi nhiều tác giả. So với các lĩnh vực chính sách công khác, lĩnh vực du lịch vẫn còn chƣa đƣợc luật hóa, văn bản hóa toàn diện và ít đƣợc quan tâm trong các chính sách công và khoa học chính trị. Với vai trò của du lịch nhƣ động lực phát triển kinh tế của quốc gia và khu vực, địa phƣơng, chính quyền các cấp đã dành nhiều quan tâm hơn trong nghiên cứu các chính sách công để phát triển du lịch [22].
Quản lý nhà nƣớc về du lịch có thể đƣợc khái quát là sự tác động có tổ chức và đƣợc điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc (qua hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con ngƣời để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nƣớc và quốc tế nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra [11]. Ở Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nƣớc về du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ. Tổng cục Du lịch là cơ quan tham mƣu, giúp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về du lịch. Cơ quan tham mƣu quản lý nhà nƣớc về du lịch ở cấp tỉnh là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (hoặc Sở Du lịch), cấp huyện là phòng Văn hóa - Thông tin.
Sự cần thiết và những yếu tố ảnh hƣớng đến quản lý nhà nƣớc về du lịch 1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về du lịch Nhà nƣớc ra đời là nhằm thực hiện vai trò, chức năng quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.