Luận án về nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch Cát Bà

Luận án phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm phát triển du lịch Cát Bà, đề xuất giải pháp hiệu quả cho ngành du lịch địa phương.

Trường đại học

Trường Đại Học Hải Phòng

Chuyên ngành

Du Lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2017

168
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu nước ngoài về nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm phát triển du lịch

1.2. Hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

1.3. Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia

1.4. Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DU LỊCH

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH DU LỊCH CÁT BÀ

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DU LỊCH CÁT BÀ

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về du lịch Cát Bà

Quần đảo Cát Bà, thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, nổi bật với 388 đảo lớn nhỏ và được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Với tiềm năng du lịch phong phú, Cát Bà được xem là "Hòn ngọc" của vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch Cát Bà vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2017, chỉ có 2,16 triệu lượt khách, trong đó tỷ lệ khách quốc tế chỉ đạt 22,1%. Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà cần được nâng cao để phát triển bền vững.

1.1. Tiềm năng và thách thức

Cát Bà sở hữu nhiều lợi thế như cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, đa dạng sinh học và các hoạt động du lịch phong phú. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà bị hạn chế bởi thiếu sản phẩm du lịch đặc thù, hạ tầng chưa phát triển và dịch vụ chưa chuyên nghiệp. Những yếu tố này cần được khắc phục để phát triển du lịch bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

II. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà, cần phân tích các yếu tố như nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo thêm và chính sách phát triển. Các nghiên cứu cho thấy rằng du lịch bền vữngdu lịch sinh thái là những hướng đi quan trọng. Tuy nhiên, hiện tại, du lịch Cát Bà vẫn chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực này. Việc cải thiện chất lượng dịch vụcơ sở hạ tầng là cần thiết để thu hút khách du lịch.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Các yếu tố như quản lý du lịch, quảng bá du lịchtrải nghiệm du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần có các chiến lược phát triển rõ ràng để cải thiện các yếu tố này. Việc áp dụng công nghệ hiện đại và các hoạt động bảo tồn môi trường cũng sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà, cần thực hiện một số giải pháp như cải thiện chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm du lịch độc đáo và tăng cường quản lý du lịch. Các hoạt động quảng bá du lịch cần được đẩy mạnh để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương để phát triển du lịch bền vững.

3.1. Đề xuất các chính sách phát triển

Các chính sách phát triển cần tập trung vào việc xây dựng hạ tầng du lịch và cải thiện dịch vụ du lịch. Cần có các chương trình đào tạo cho nhân viên trong ngành du lịch để nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái và cộng đồng sẽ tạo ra sự khác biệt cho du lịch Cát Bà, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh du lịch. Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà. Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài về nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm phát triển du lịch Hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh (NLCT) để phát triển du lịch được các tác giả tiếp cận ở các góc độ khác nhau gồm: NLCT điểm đến du lịch, NLCT quốc gia, NLCT cấp tỉnh, NLCT du lịch, NLCT ngành, NLCT doanh nghiệp, NLCT sản phẩm. Trong phần này tác giả tập trung tổng quan theo hướng tiếp cận NCLCT điểm đến du lịch, NLCT quốc gia, NLCT cấp tỉnh và NLCT ngành: Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Có Ahmed và Krohn, 1990; Ritchie và Crouch, 1993; Bordas, 1994; Pearce, 1997; Woodside và Carr, 1988; Crouch và Ritchie, 1999; Kozak và Rimmington, 1999; Buhalis, 2000; Harteserre, 2000; Go và Govers, 2000; Hassan, 2000; Mihalic, 2000; Thomas và Long, 2000; Kozak, 2001, và 2 tác giả tiêu biểu là Dwyer & Kim (2 3) Ritchie & Crouch, 2 3. Trong đó, hai mô hình nghiên cứu của Crouch & Ritchie (1999) và Dwyer & Kim (2 3) đã được áp dụng tương đối phổ biến và mở rộng theo nhiều hướng khác nhau trong thực tế cả trên thế giới và trong nước.

Dwyer & Kim (2 3) đã kết luận năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch nhìn chung được chấp nhận dựa trên 3 nhóm yếu tố chính là: (i) lợi thế so sánh giúp cạnh tranh về giá; (ii) khả năng về chiến lược và quản trị; và (iii) nguồn lực về lịch sử, văn hóa, xã hội. Năng lực cạnh tranh du lịch có thể được đánh giá ở nhiều cấp độ, v mô (cấp quốc gia) hay vi mô (cấp doanh nghiệp) (Ritchie & Crouch, 2003; Dwyer & Kim, 2003) [65]. Theo một cách tiếp cận khác, lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh thường được đề cập khi bàn về năng lực cạnh tranh trong du lịch (Porter, 1990) m c dù sự khác biệt giữa hai loại lợi thế này ít khi được làm rõ (Ritchie & Crouch, 2003). Ritchie & Crouch (2003) cho rằng đối với mỗi điểm đến du lịch, lợi thế so sánh chỉ các nguồn lực có sẵn như khí hậu, cảnh quan, thảm động - thực 8 vật… Lợi thế cạnh tranh trong khi đó chỉ những nguồn lực được tạo ra như cơ sở hạ tầng (lưu trú, giao thông…), lễ hội và sự kiện, kỹ năng quản trị, chất lượng nhân lực… Nói cách khác, lợi thế so sánh là nguồn lực mà điểm đến du lịch sở hữu còn lợi thế cạnh tranh là khả năng của điểm đến để khai thác hiệu quả các nguồn lực của mình.

Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch được quyết định bởi cả hai loại lợi thế này. Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia M. Với các kết quả nghiên cứu của mình tác giả giải thích và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến đến NLCT của một quốc gia (một địa phương) trong một ngành nhất định. Theo đó, NLCT được thể hiện qua sự liên kết của 4 nhóm yếu tố: Điều kiện các yếu tố sản xuất và dịch vụ; Điều kiện về cầu; Các ngành hỗ trợ và có liên quan; Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của ngành.

Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên khả năng cạnh tranh của một quốc gia, một địa phương trong ngành. Ngoài ra còn hai yếu tố khác là Chính sách của Chính phủ và Cơ hội. M c dù, công trình không đi sâu vào l nh vực dịch vụ du lịch, song lý thuyết cạnh tranh của M. Porter có thể được sử dụng khá thích hợp trong việc nghiên cứu NLCT của ngành du lịch.

Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp tỉnh NLCT cấp tỉnh là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và thu hút vốn đầu tư FDI hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế và nâng cao mức sống người dân của tỉnh đó, có bốn đ c điểm: Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn 9 điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh “ngôi sao” ho c tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó,và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào c ng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm. Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh. Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh tế, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng. Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp và sự cải thiện phúc lợi của địa phương.

Mối liên hệ cuối cùng này đ c biệt quan trọng vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh tế. Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện. Các chỉ tiêu này c ng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh. Như vậy, nghiên cứu này là nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong l nh vực du lịch thuộc ngành dịch vụ trong nền kinh tế hỗn hợp Việt Nam theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a có sự quản lý của Nhà Nước được chia thành 3 ngành kinh tế chính đó là: Ngành 10 công nghiệp; Ngành dịch vụ; Ngành nông nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Đ c biệt, mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh địa phương trong phát triển du lịch ở cấp độ vi mô của M.Porter (2007) cho thấy các nguồn lực của địa phương s tạo ra lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên việc đánh giá năng lực cạnh tranh trong du lịch cần phải có cái nhìn tổng thể để đưa ra giả định rằng mỗi tỉnh được giới hạn trong một tập hợp các nguồn lực của địa phương, song thay vì được đánh giá một cách độc lập chúng phải được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau để có thể làm tăng cường năng lực cạnh tranh của tỉnh đó. Mô hình này đ c biệt quan trọng cho các nghiên cứu về năng lực cạnh ở các cấp của địa phương trong phát triển du lịch như một hệ thống phức tạp trong đó mỗi đại lượng bao gồm nhiều cụm/ngành và các nguồn lực khác nhau về lợi thế của địa phương phụ thuộc vào đ c điểm điểm đến và văn hóa kinh doanh [96]. Cách sử dụng mô hình của M.Porter (2007): Mô hình kim cương ban đầu bao gồm 4 yếu tố chính đó là: Điều kiện về các yếu tố; Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của địa phương; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; Điều kiện về nhu cầu, chúng tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh địa phương trong du lịch và lần lượt tạo ra các liên kết như sau: Liên kết 1. Cạnh tranh chất lượng (Competitive quality): Các yếu tố chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của doanh nghiệp liên kết với điều kiện về các yếu tố Liên kết 2.

Cạnh tranh đầu vào (Competitive input): Các yếu tố chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của doanh nghiệp liên kết với các yếu tố Marketing, chính sách, kế hoạch, kiểm soát, phát triển du lịch. Hỗ trợ cầu (Supporting demand): Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan liên kết với các yếu tố điều kiện về nhu cầu Liên kết 4. Hỗ trợ cung (Supporting Supply): Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan liên kết với điều kiện về các yếu tố 11 Hướng tiếp cận từ lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp ngành M. Porter (1980), một ngành kinh tế được coi là có năng lực cạnh tranh khi các doanh nghiệp trong ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một ngành kinh tế bao gồm: Lợi thế so sánh của ngành, môi trường kinh tế v mô và môi trường kinh doanh của ngành, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ đ c thù của ngành được mô tả trong mô hình năm “thế lực” cạnh tranh hay năm “lực lượng” cạnh tranh bao gồm: Chiến lược doanh nghiệp; Cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh; Các điều kiện cạnh tranh; Các điều kiện cầu; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan [96]. Cùng với quá trình hội nhập mạnh m của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây, việc mở cửa khu vực dịch vụ đã tạo ra một sức ép lớn đối với vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ Việt Nam. Có thể nói, năng lực cạnh tranh của hầu hết các l nh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay đang ở mức thấp so với thế giới và thậm chí ngay cả so với các nước đang phát triển trong khu vực. Điều này mang đến cho những khó khăn cho khu vực dịch vụ Việt Nam trên cả thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch Cát Bà" từ Trường Đại Học Hải Phòng năm 2017 tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch tại Cát Bà. Luận án chỉ ra rằng việc cải thiện chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm du lịch độc đáo và tăng cường quảng bá là những yếu tố then chốt để thu hút du khách và phát triển bền vững. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành du lịch, từ đó có thể áp dụng vào các khu vực khác.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của du lịch, hãy tham khảo thêm bài viết Luận văn về phát triển bền vững du lịch năng lượng xanh tại khu du lịch Cát Bà, nơi nghiên cứu về sự kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, bài viết Luận Văn Về Năng Lực Cạnh Tranh Du Lịch Tại Bình Thuận cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong ngành du lịch. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận Văn Về Phát Triển Du Lịch Tây Ninh: Chiến Lược và Giải Pháp, để hiểu thêm về các chiến lược phát triển du lịch tại một địa phương khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều về ngành du lịch.