Tổng quan luận án

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, gồm 388 đảo lớn nhỏ nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long. Khu vực này được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 02/12/2004 và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt vào tháng 12/2013. Mặc dù sở hữu giá trị cảnh quan, địa chất địa mạo và sinh thái tầm cỡ quốc tế, hoạt động phát triển du lịch tại Cát Bà được tác giả đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng. Năm 2017, lượng khách đến Cát Bà đạt 2,16 triệu lượt, trong đó tỷ lệ khách quốc tế chiếm 22,1%; thu nhập từ du lịch đạt 1.250 tỷ đồng; chi phí bình quân của một lượt khách dao động từ 442.433 đồng; số ngày lưu trú trung bình đạt 1,5 ngày. Các hạn chế chủ yếu gồm: thiếu sản phẩm du lịch đặc thù, khó khăn về hạ tầng tiếp cận, môi trường du lịch chưa đảm bảo, dịch vụ thiếu tính chuyên nghiệp và tình trạng ùn tắc giao thông.

Nhằm cụ thể hóa định hướng từ Quyết định số 2732/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050" (hướng tới xây dựng đảo "Ngọc Bích", du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn), luận án thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về năng lực cạnh tranh của điểm đến.

Chỉ tiêu thực trạng du lịch Cát Bà Giá trị ghi nhận năm 2017
Tổng lượng khách du lịch 2,16 triệu lượt
Tỷ lệ khách du lịch quốc tế 22,1%
Doanh thu du lịch 1.250 tỷ đồng
Chi phí bình quân / lượt khách 442.433 đồng
Thời gian lưu trú trung bình 1,5 ngày

Mục tiêu nghiên cứu: Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà tương xứng với vị thế và tiềm năng du lịch.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến cạnh tranh du lịch ở điểm đến; xác định các yếu tố với hệ thống tiêu chí đo lường đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch.
  2. Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của du lịch Cát Bà qua các yếu tố: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo thêm, nguồn lực phụ trợ, chính sách phát triển du lịch và quản lý điểm đến; chỉ ra những điểm hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
  3. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà đặt trong bối cảnh phát triển mới gắn với quan điểm và định hướng phát triển du lịch Cát Bà trong giai đoạn tới.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những yếu tố chính nào để nhận biết khả năng cạnh tranh và để đánh giá về năng lực cạnh tranh du lịch điểm đến?
  2. Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà là gì? Những yếu tố chính nào ảnh hưởng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà?
  3. Giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà trong giai đoạn phát triển tới đây?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà.
  • Phạm vi không gian: Quần đảo Cát Bà với trọng tâm là đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2013 – 2017 và định hướng đến năm 2025; số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong các năm 2017, 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhánh tiếp cận chính:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Tiếp cận năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Các công trình của Ahmed và Krohn (1990), Ritchie và Crouch (1993, 1999, 2003), Bordas (1994), Woodside và Carr (1988), Kozak và Rimmington (1999), Buhalis (2000), Harteserre (2000), Go và Govers (2000), Hassan (2000), Mihalic (2000), Thomas và Long (2000), Kozak (2001), Dwyer và Kim (2003). Trong đó, Ritchie và Crouch (2003) phân định rõ lợi thế so sánh (nguồn lực sẵn có như khí hậu, cảnh quan, hệ động thực vật) và lợi thế cạnh tranh (nguồn lực tạo ra như hạ tầng lưu trú, giao thông, quản trị, nhân lực). Dwyer và Kim (2003) xác định 3 nhóm yếu tố cạnh tranh: lợi thế so sánh về giá, năng lực chiến lược/quản trị, và nguồn lực lịch sử văn hóa xã hội.
  • Tiếp cận năng lực cạnh tranh quốc gia và ngành: Michael Porter (1980, 1990, 2007) với mô hình Kim cương gồm 4 yếu tố cốt lõi (điều kiện yếu tố sản xuất/dịch vụ; điều kiện cầu; các ngành hỗ trợ/liên quan; chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội ngành) cùng 2 yếu tố bổ trợ (chính sách chính phủ và cơ hội); mô hình 5 áp lực cạnh tranh ngành kinh tế.
  • Các mô hình định lượng và chuyên biệt:
    • Yoon (2002) phân tích cạnh tranh điểm đến từ các bên liên quan tại Virginia với 5 nhóm biến.
    • Craigwell và More (2008) nghiên cứu 45 hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ, chỉ ra 7 yếu tố tác động: giá cả, nhân lực, cơ sở hạ tầng, môi trường, công nghệ, sự cởi mở và khía cạnh xã hội.
    • Goffi (2012) điều chỉnh mô hình cho 61 điểm đến tại Italia với 7 biến độc lập, 64 biến quan sát qua công cụ trực tuyến Limesurvey.
    • Bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành (TTCI 2013) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) phối hợp cùng IATA, IUCN, UNWTO, WTTC gồm 3 chỉ mục lớn (khung pháp lý; môi trường kinh doanh và hạ tầng; nguồn nhân lực, văn hóa và tài nguyên tự nhiên) với 14 trụ cột và 79 biến đo lường.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Cấp quốc gia và ngành: Dự án VIE 89-003 (1989) của UNWTO/UNDP; Đề tài của Vụ Thương mại và Dịch vụ phối hợp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006); Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2007) nghiên cứu lữ hành quốc tế; Nguyễn Anh Tuấn (2010) áp dụng mô hình Dwyer và Kim đo lường điểm đến Việt Nam qua SurveyMonkey; Hà Thị Thanh Thủy (2014) so sánh năng lực cạnh tranh du lịch biển Việt Nam với Thái Lan và Indonesia (năm 2013 Việt Nam đứng thứ 80/140 quốc gia).
  • Cấp doanh nghiệp: Hà Thanh Hải (2010) đánh giá năng lực cạnh tranh khách sạn bằng ma trận Thomson – Strickland; Nguyễn Quang Vinh (2011) xây dựng 6 nhân tố, 17 chỉ số đánh giá doanh nghiệp lữ hành quốc tế sau gia nhập WTO.
  • Cấp địa phương và điểm đến: Nguyễn Thị Thu Vân (2012) khảo sát 84 chỉ số theo Dwyer và Kim tại Đà Nẵng; Nguyễn Việt Cường (2013) nghiên cứu quyết định chọn điểm đến Quảng Ninh; Đào Duy Huân (2015) dùng ma trận hình ảnh cạnh tranh đánh giá Cần Thơ (đạt 3.1 điểm) so với An Giang, Tiền Giang, Bến Tre; Lê Chí Công và Hồ Huy Tựu (2015) ứng dụng mô hình đổi mới giá trị (Kim và Mauborgne, 2004) tại 8 tỉnh Nam Trung Bộ (xác định 13 yếu tố loại bỏ, 1 cắt giảm, 16 gia tăng, 13 hình thành); Trần Thị Thùy Trang (2015) khảo sát TP. Hồ Chí Minh theo mô hình kim cương; Nguyễn Thạnh Vượng (2015) khảo sát 43 doanh nghiệp tại Tiền Giang; Thái Thị Kim Oanh (2015) nghiên cứu du lịch biển đảo Nghệ An.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung ở quy mô quốc gia hoặc tại các địa phương đất liền, đô thị lớn. Còn thiếu vắng các công trình đánh giá thực nghiệm năng lực cạnh tranh cho một điểm đến biển đảo đặc thù như Cát Bà thông qua hệ thống tiêu chí định lượng từ cảm nhận, đánh giá trực tiếp của khách du lịch kết hợp ý kiến chuyên gia quản lý.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kế thừa hệ thống khái niệm về du lịch từ Liên đoàn Quốc tế các Tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Martin Mowforth và Ian Munt (2001), Giáo trình Kinh tế Du lịch - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017. Sản phẩm du lịch được tiếp cận với 4 đặc tính: không mất đi sau tiêu dùng mà có thể gia tăng giá trị, có tính thời điểm/mùa vụ, không thể dịch chuyển, không đồng nhất về chất lượng. Điểm đến du lịch được tiếp cận theo định nghĩa của UNWTO và Vengesavy (2003).

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp và điều chỉnh từ mô hình của Dwyer và Kim (2003) kết hợp nghiên cứu đảo nhỏ của Craigwell và More (2008), bao gồm 5 nhóm thành tố tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Cát Bà:

  1. Nguồn lực thừa hưởng (kế thừa): Tài nguyên tự nhiên, bãi biển, cảnh quan sinh thái, di sản văn hóa.
  2. Nguồn lực tạo ra (tạo mới): Cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú, sản phẩm vui chơi giải trí, mua sắm, sự kiện lễ hội.
  3. Nguồn lực hỗ trợ (phụ trợ): Cơ sở hạ tầng tiện ích nói chung, khả năng tiếp cận, giao thông, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, sự thân thiện mến khách.
  4. Chính sách du lịch, quy hoạch và phát triển: Thể chế, định hướng quy hoạch, môi trường kinh doanh, xúc tiến đầu tư.
  5. Quản lý điểm đến: Tổ chức bộ máy hành chính, quản lý vệ sinh môi trường, an ninh trật tự xã hội, xúc tiến quảng bá, phát triển nguồn nhân lực.
Tác giả mô hình Nhóm yếu tố cấu thành chính
Yoon (2002) (1) Nhận thức tác động phát triển; (2) Thái độ môi trường; (3) Gắn kết địa điểm; (4) Ưu tiên phát triển; (5) Hỗ trợ chiến lược cạnh tranh.
Dwyer và Kim (2003) (1) Nguồn lực thừa hưởng; (2) Nguồn lực tạo ra; (3) Nguồn lực hỗ trợ; (4) Chính sách du lịch, hoạch định và phát triển; (5) Quản lý điểm đến; (6) Điều kiện cầu.
Crouch (2007) (1) Nguồn lực cốt lõi và mức độ hấp dẫn; (2) Kế hoạch và chính sách; (3) Nguồn lực hỗ trợ; (4) Quản lý điểm đến; (5) Điều kiện và yếu tố quyết định.
Craigwell và More (2008) (1) Giá cả; (2) Nhân lực; (3) Cơ sở hạ tầng; (4) Môi trường; (5) Công nghệ; (6) Sự cởi mở; (7) Khía cạnh xã hội.
Goffi (2012) (1) Nguồn lực cốt lõi; (2) Dịch vụ du lịch; (3) Cơ sở hạ tầng; (4) Yếu tố hỗ trợ; (5) Chính sách phát triển; (6) Quản lý điểm đến; (7) Yếu tố cầu.
WEF TTCI (2013) (1) Khung pháp lý; (2) Môi trường kinh doanh và hạ tầng; (3) Con người, văn hóa và tài nguyên tự nhiên (14 trụ cột, 79 chỉ số).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua 3 bước thực hiện:

Bước thực hiện Phương pháp Kỹ thuật thu thập Quy mô đối tượng Mục đích nghiên cứu
Bước 1 Định tính Phỏng vấn sâu 30 khách du lịch (nội địa, quốc tế) và 05 chuyên gia Khám phá, hiệu chỉnh và bổ sung mô hình nghiên cứu
Bước 2 Định lượng Khảo sát bằng bảng hỏi 300 – 500 khách du lịch Thu thập dữ liệu đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh
Bước 3 Định tính bổ sung Phỏng vấn sâu 05 chuyên gia quản lý, hoạch định chính sách Giải thích, làm rõ các kết quả định lượng thu được

Bên cạnh đó, luận án sử dụng:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Hệ thống hóa dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy hoạch, niên giám thống kê thành phố Hải Phòng và huyện Cát Hải, báo cáo ngành du lịch.
  • Phương pháp điều tra thực địa và PRA (Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng): Phỏng vấn sâu 31 cá nhân đại diện cộng đồng, du khách và chuyên gia.
  • Phương pháp thống kê – so sánh: Đối chiếu các chuỗi số liệu phát triển du lịch Cát Bà qua các năm và so sánh tương quan với Đồ Sơn, Hạ Long.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập hợp và phân tích có hệ thống các tài liệu học thuật về năng lực cạnh tranh du lịch từ cấp độ quốc gia, địa phương, ngành cho đến cấp điểm đến cụ thể. Tác giả chỉ ra 3 tuyến vấn đề trọng tâm trong y văn: các mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh; thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam theo các bảng xếp hạng quốc tế; và các nghiên cứu thực nghiệm tại từng địa phương trong nước. Từ việc phân tích ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm, tác giả khẳng định khoảng trống về việc thiếu công cụ định lượng đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến biển đảo Cát Bà từ góc độ cảm nhận của du khách, làm cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu cho đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh du lịch

Chương 2 làm rõ các khái niệm: du lịch, sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch, năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh điểm đến. Tác giả phân tích chi tiết các mô hình lý thuyết tiêu biểu: mô hình Dwyer và Kim (2003), Crouch (2007), Goffi (2012), Yoon (2002), Craigwell và More (2008), bộ chỉ số TTCI của WEF (2013), cùng các phân loại tài nguyên du lịch (3F, 5H, 3S, 6S, Krippendorf 1987, Jeffries 2001).

Đồng thời, chương này tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển du lịch từ thực tiễn quốc tế và trong nước:

  • Singapore: Quản lý nhà nước ổn định, minh bạch; triển khai có lộ trình các chiến lược như "Kế hoạch phát triển du lịch 1986" (bảo tồn phố Tàu, Tiểu Ấn, Tanjong Pagar, Kampong Glam, sông Singapore), "Kế hoạch phát triển chiến lược 1993" (du lịch chữa bệnh, du thuyền, giáo dục), "Du lịch 21" (1996) và "Du lịch 2015" (2005); đón trên 10 triệu khách quốc tế mỗi năm, gấp gần 3 lần dân số.
  • Thái Lan: Quy hoạch không gian giải trí tách biệt khu dân cư để hoạt động 24/24; phát huy hiệu quả công nghệ quảng bá gắn với điện ảnh Hollywood (vịnh Maya, đảo James Bond); khai thác điểm ngắm hoàng hôn và các nông trại địa phương; giáo dục cộng đồng về thái độ mến khách.
  • Đà Nẵng: Đổi mới tư duy quản lý, tạo môi trường đầu tư thông thoáng cho các nhà đầu tư chiến lược; hỗ trợ hạ tầng cầu tàu du lịch đường thủy nội địa, cơ sở lưu niệm; triển khai đồng bộ Luật Du lịch năm 2017.

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Nội dung chương tập trung phản ánh thực trạng phát triển du lịch Cát Bà giai đoạn 2013 – 2017 thông qua việc xử lý dữ liệu thống kê thứ cấp và số liệu khảo sát sơ cấp. Tác giả phân tích lợi thế vị trí địa lý của Cát Bà trong mối tương quan so sánh với Đồ Sơn và Hạ Long.

Các phát hiện và tiêu chí đánh giá chính gồm:

  • Quy mô tăng trưởng và cơ cấu khách: Phân tích biến động lượt khách nội địa, khách quốc tế và doanh thu du lịch giai đoạn 2013 – 2017; đặc điểm nhân khẩu học (tỷ lệ nam/nữ, số lần đến Cát Bà, mục đích chuyến đi, hình thức tổ chức tour hay tự túc, kênh tiếp cận thông tin).
  • Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất: Thực trạng cơ sở lưu trú năm 2017; quy mô và chất lượng lao động phục vụ du lịch giai đoạn 2014 – 2017; cơ cấu lao động huyện Cát Hải năm 2017 và dự báo nhu cầu nhân lực đến năm 2030.
  • Đánh giá các tiêu chí năng lực cạnh tranh qua khảo sát du khách:
    • Tiêu chí sản phẩm điểm đến du lịch (tính hấp dẫn của cảnh quan, sự phong phú của sản phẩm).
    • Tiêu chí an ninh – trật tự – môi trường xã hội.
    • Tiêu chí vệ sinh môi trường tại các khu điểm tham quan, bãi tắm.
    • Tiêu chí cơ sở hạ tầng tiện ích (hạ tầng giao thông tiếp cận bến phà, đường bộ, mạng lưới điện, nước, thông tin liên lạc).
    • Tiêu chí giá cả và tính minh bạch trong chi tiêu dịch vụ.
    • Tiêu chí về độ tin cậy, sự cởi mở, tính chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên phục vụ và cán bộ quản lý bản địa.
    • Tiêu chí thương hiệu và hình ảnh du lịch Cát Bà.
  • Các điểm nghẽn được nhận diện: Tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng trong mùa cao điểm tại các bến phà; tính mùa vụ đậm nét; chất lượng dịch vụ chưa đồng đều; sản phẩm du lịch đêm và dịch vụ bổ trợ còn nghèo nàn; xung đột giữa phát triển du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Cát Bà.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Cát Bà

Trên cơ sở dự báo tăng trưởng du lịch thế giới của UNWTO/WEF đến năm 2030 và định hướng Quy hoạch tổng thể Cát Bà đến năm 2025, tầm nhìn 2050, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến:

  • Nhóm giải pháp về quy hoạch và quản lý điểm đến: Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước; kiểm soát tải lượng du khách tại các điểm bảo tồn sinh thái; ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành và xúc tiến du lịch.
  • Nhóm giải pháp phát triển sản phẩm du lịch: Khai thác các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch cộng đồng; đa dạng hóa dịch vụ vui chơi giải trí và kinh tế ban đêm để gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện hạ tầng và bảo vệ môi trường: Cải thiện hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (giải quyết nút thắt bến phà); đầu tư hệ thống xử lý nước thải, thu gom rác thải; bảo vệ môi trường biển đảo theo tiêu chuẩn tăng trưởng xanh.
  • Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và liên kết vùng: Đào tạo chuẩn hóa kỹ năng nghề du lịch cho nhân lực bản địa; đẩy mạnh liên kết không gian du lịch với Hạ Long (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng) và vùng kinh tế Duyên hải Đông Bắc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa khung lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch biển đảo; làm rõ các khái niệm công cụ, mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của điểm đến.
  • Vận dụng và điều chỉnh mô hình nghiên cứu của Dwyer và Kim (2003) kết hợp Craigwell và More (2008) để xây dựng hệ thống thang đo, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh phù hợp với điều kiện thực tế của điểm đến du lịch Cát Bà tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về năng lực cạnh tranh của du lịch Cát Bà giai đoạn 2013 – 2017 dựa trên sự tích hợp giữa dữ liệu thống kê thứ cấp và kết quả khảo sát sơ cấp khách du lịch cùng chuyên gia.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn cốt lõi làm suy giảm năng lực cạnh tranh của Cát Bà (hạ tầng tiếp cận, tính mùa vụ, vệ sinh môi trường, sản phẩm đặc thù, tính chuyên nghiệp của nhân lực).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính ứng dụng thực tế cho Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải trong việc xây dựng cơ chế chính sách, quy hoạch không gian và quản trị điểm đến Cát Bà đến năm 2025, tầm nhìn 2050.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi thời gian dữ liệu: Chuỗi dữ liệu thứ cấp dừng lại ở giai đoạn 2013 – 2017 và dữ liệu điều tra sơ cấp thu thập trong các năm 2017 – 2018, chưa phản ánh các biến động kinh tế - xã hội và thị trường du lịch ở các giai đoạn sau đó.
  • Hạn chế về không gian và cỡ mẫu: Địa bàn khảo sát tập trung chủ yếu tại đảo Cát Bà trung tâm; mẫu điều tra du khách (300 – 500 mẫu) và phỏng vấn sâu chuyên gia (31 người) dù đảm bảo tính đại diện ban đầu nhưng có thể mở rộng thêm đối với cộng đồng doanh nghiệp kinh doanh lữ hành gửi khách đến Cát Bà.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình hạ tầng giao thông mới (cầu, cáp treo) đến sức chứa môi trường và năng lực cạnh tranh của điểm đến; theo dõi sự dịch chuyển trong hành vi và cơ cấu chi tiêu của phân khúc khách du lịch quốc tế cao cấp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng bài bản trong việc đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch; là tài liệu tham khảo cho các học phần Quản trị điểm đến du lịch, Kinh tế du lịch, Địa lý du lịch.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là cơ sở dữ liệu và căn cứ khoa học cho Sở Du lịch Hải Phòng, Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải, Ban Quản lý Vịnh Cát Bà và Vườn quốc gia Cát Bà trong việc xây dựng quy hoạch, ban hành quy chế quản lý dịch vụ và kiểm soát môi trường du lịch.
  • Đối với các doanh nghiệp du lịch: Cung cấp thông tin thực chứng về hành vi, thị hiếu và mức độ hài lòng của du khách, giúp các đơn vị lữ hành, lưu trú tại Hải Phòng tái cấu trúc sản phẩm và nâng cấp chất lượng dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung phân tích năng lực cạnh tranh của luận án được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết nào? Tác giả kế thừa và điều chỉnh mô hình lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến của Dwyer và Kim (2003) kết hợp mô hình nghiên cứu hòn đảo du lịch nhỏ của Craigwell và More (2008), bao gồm 5 nhóm thành tố: nguồn lực thừa hưởng, nguồn lực tạo ra, nguồn lực hỗ trợ, chính sách du lịch - quy hoạch - phát triển, và quản lý điểm đến.

2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai với quy mô mẫu như thế nào? Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp: định tính bước 1 phỏng vấn sâu 30 khách du lịch và 05 chuyên gia; định lượng bước 2 khảo sát từ 300 đến 500 khách du lịch bằng bảng hỏi; định tính bước 3 phỏng vấn sâu bổ sung 05 chuyên gia; kết hợp phỏng vấn sâu thực địa 31 người bằng phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA).

3. Lượng khách và doanh thu du lịch Cát Bà năm 2017 đạt mức cụ thể là bao nhiêu? Năm 2017, Cát Bà đón 2,16 triệu lượt khách du lịch, trong đó tỷ lệ khách quốc tế đạt 22,1%; tổng doanh thu từ du lịch đạt 1.250 tỷ đồng; chi phí bình quân của một lượt khách là 442.433 đồng và thời gian lưu trú trung bình đạt 1,5 ngày.

4. Những tiêu chí thành phần nào được sử dụng để khảo sát cảm nhận của du khách về du lịch Cát Bà? Du khách được khảo sát dựa trên 7 tiêu chí: (1) Sản phẩm điểm đến du lịch; (2) An ninh – trật tự – môi trường xã hội; (3) Vệ sinh môi trường; (4) Cơ sở hạ tầng tiện ích; (5) Giá cả; (6) Độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên và cán bộ bản địa; (7) Thương hiệu du lịch.

5. Điểm nghẽn lớn nhất trong hạ tầng tiếp cận của Cát Bà được luận án ghi nhận là gì? Đó là tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ nghiêm trọng tại các tuyến đường và bến phà đưa đón khách ra đảo trong mùa cao điểm du lịch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng trải nghiệm của du khách.


Kết luận

Luận án "Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch: Nghiên cứu trường hợp Cát Bà" đã thực hiện hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch và vận dụng mô hình tích hợp của Dwyer và Kim (2003) vào thực tiễn địa phương. Thông qua sự kết hợp giữa phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2013 – 2017 và khảo sát sơ cấp du khách, công trình đã định lượng các tiêu chí cạnh tranh và chỉ rõ các điểm nghẽn trong phát triển du lịch Cát Bà. Hệ thống giải pháp được đề xuất cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, điều hành quản lý của chính quyền thành phố Hải Phòng và huyện Cát Hải nhằm phát triển bền vững du lịch quần đảo Cát Bà.