phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chủ yếu của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng. Chƣơng 1: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch. Chƣơng 2: Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bình Thuận. Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển du lịch Bình Thuận.
16 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1. Du lịch và điểm đến du lịch 1.
Khái niệm về du lịch Du lịch là một khái niệm rộng, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tƣợng, tùy vào góc độ xem xét, nhìn nhận khác nhau mà có thể đƣợc khái quát khác nhau, vì vậy, hiện nay, trên thế giới và trong nƣớc có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về du lịch. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con ngƣời tại nơi không phải là nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không hề có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến”[13] Theo một số học giả du lịch Trung Quốc thì: “ Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”.I Prôgionic (1985) thì: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao hoặc kem theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế - văn hóa”.2 ] Theo nhà kinh tế ngƣời Áo Josep Stander nhìn từ: - Góc độ thay đổi không gian của du khách: “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ 17 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”.
- Góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.8 ] Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ, nhƣng các nhà nghiên cứu du lịch cũng đã đƣa ra những khái niệm nhìn nhận dƣới các góc độ khác nhau. Mặc dù có thể có những điểm khác nhau do dựa trên những góc độ nhìn nhận vấn đề khác nhau nhƣ nhƣng nhìn chung các quan niệm đều có nổi bật lên 2 khía cạnh chính: là hoạt động nghỉ ngơi, tham quan (với những mục đích nhau nhƣng không vì mục đích kiềm tiền) của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú và tạo ra ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả về nhiều mặt.
Luật Du lịch Việt Nam đã nêu khái niệm về du lịch nhƣ sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.6] Nhƣ vậy, du lịch là lĩnh vực hoạt động khai thác các tài nguyên du lịch và cung cấp các dịch vụ du lịch thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu du lịch của con người. Du lịch lấy các tài nguyên du lịch làm cơ sở tiền đề tạo sản phẩm du lịch. Du lịch là nhu cầu cao cấp của con ngƣời, nó mang tính giáo dục nhận thức, giải trí cao của con ngƣời và là cầu nối cho việc giao lƣu văn hóa – kinh tế giữa các vùng miền. Khái niệm điểm đến du lịch 18 Footer Page 18 of 107.
Header Page 19 of 107. Du lịch là hoạt động có hƣớng đích không gian. Khách du lịch rời khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình để đến một địa điểm cụ thể khác để thảo mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi. Địa điểm mà họ tới có thể là một địa danh cụ thể (vịnh Hạ Long), một vùng lãnh thổ (miền núi phía Bắc), một quốc gia (Việt Nam), thậm chí có thể là một châu lục (châu Âu), và trong du lịch, các địa điểm đó đƣợc gọi là điểm đến du lịch.
Và nhƣ vậy có thể định nghĩa “Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình du lịch đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu chuyến đi của mình”. Từ góc độ cầu du lịch, điểm đến du lịch và hình ảnh của nó hấp dẫn du khách, thúc đẩy nhu cầu tham quan và tạo ra sức sống cho du lịch. Từ góc độ cung du lịch, điểm đến là sự tập trugn các tiện nghi và dịch vụ đƣợc thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách. Và hầu hết các điểm đến du lịch đƣợc cấu thành bởi những điểm hấp dẫn du lịch, giao thông đi lại, khả năng tiếp cận điểm đến, nơi ăn nghỉ, các tiện nghi và dịch vụ bổ sung.
Trần Thị Minh Hòa „điểm đến du lịch là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững‟[14]. Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. Tuy nhiên, điểm đến du lịch có thể là vùng du lịch, á vùng du lịch hay tiểu vùng du lịch tùy theo quy mô lớn, nhỏ. Theo cách hiểu trên thì điểm du lịch đƣợc xem là có quy mô nhỏ “là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ »[10, tr.113] Điều 24, Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du lịch cấp quốc gia: - Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; 19 Footer Page 19 of 107.
Header Page 20 of 107. - Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm. Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du lịch địa phƣơng: - Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; - Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm. Nhƣ vậy, điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và thỏa mãn các yêu cầu của du khách về du lịch như: những di tích văn hóa lịch sử, những danh thắng, các công trình cổ đại và đương đại, các cổ vật, những giá trị văn hóa phi vật thể, truyền miệng, phong tục tập quán, ứng xử, các lễ hội, làng nghề, nghệ thuật ẩm thực, những tác phẩm văn học, nhạc họa, thơ ca, những sự kiện, những hoạt động văn hóa, thể thao, khoa học, kinh tế, xã hội… 1.
Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 1. Sự hấp dẫn du lịch (attrations) Sự hấp dẫn du lịch của một điểm đến có thể là những đặc điểm tự nhiên, nhân tạo hoặc là các sự kiện… là những động lực ban đầu cho chuyến đi du lịch của du khách. Hầu hết du khách đi du lịch trên khắp thế giới hay đến Việt Nam là nhờ bị thu hút bởi vẻ đẹp tự nhiên tuyệt vời , những công trình sáng tạo của con ngƣời hay bởi sức hấp dẫn của những nền văn hóa đặc sắc hoặc bởi chính cuộc sốngcon ngƣời ở những nơi đây. Đó chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của du lịch đối với du khách trong nƣớc và quốc tế khi muốn thăm quan, khám phá một điểmvùng du lịch nào đó… Cùng với việc phân tích khái niệm điểm du lịch ở phần trên tác giả nhận thấy: “Sự hấp dẫn của du lịch trước tiên nó phải có tài nguyên du lịch hấp dẫn, 20 Footer Page 20 of 107.
Header Page 21 of 107. đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của du khách. Bên cạnh đó phải có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ nhu cầu của du khách khi đến điểm du lịch”. Tuy nhiên, sự hấp dẫn tại của các điểm du lịch không phải là mãi mãi nếu nhƣ việc khai thác, sử dụng các tài nguyên du lịch, các di tích lịch sử, các di sản văn hóa, các lễ hội, cơ sở vật chất kỹ thuật, môi trƣờng…thì sự hấp dẫn tại các điểm du lịch đó sẽ bị mất đi.
Do vậy, các địa phƣơng, vùng có các điểm du lịch và sản phẩm du lịch hấp dẫn phải có kế hoạch cũng nhƣ chiến lƣợc khai thác, quảng bá, bảo tồn để không làm mất đi tính hấp dẫn tại điểm du lịch của địa phƣơng, vùng. Khả năng tiếp cận nơi đến “Tiếp cận” là từ tiếng Việt tƣơng ứng với từ “acessibility”trong tiếng Anh. Nó đƣợc dùng để mô tả mức độ số lƣợng nhiều ngƣời nhất có thể tiếp cận đƣợc của một sản phẩm nào đó (nhƣ các loại thiết bị, dịch vụ, môi trƣờng không gian, điểm đến…). “Khả năng tiếp cận” đƣợc hiểu là “có thể tới được” về mặt chức năng của một hoặc toàn bộ hệ thống nào đó.
- Giao thông tiếp cận: Trong giao thông, “tiếp cận” nói đến sự đến đƣợc nơi cần tới một cách dễ dàng. Rõ ràng sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả, nối liền với các thị trƣờng nguồn khách là điểm căn bản tạo nên sự thành công của các điểm đến du lịch.