Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Thanh Phương (ngành Quản lý Văn hóa - Du lịch/Lịch sử, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) tập trung khảo sát hoạt động du lịch cộng đồng tại hai làng đồng bào Jrai thuộc tỉnh Gia Lai. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Việt Nam, trong đó loại hình du lịch cộng đồng ngày càng giữ vai trò quan trọng nhằm khai thác các giá trị truyền thống bản địa gắn với bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tỉnh Gia Lai là địa bàn cửa ngõ Bắc Tây Nguyên, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với 34 dân tộc sinh sống (đồng bào thiểu số chiếm khoảng 48% dân số toàn tỉnh, tiêu biểu là người Jrai và Bahnar), cùng di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong số các điểm đến du lịch bản địa tại Gia Lai (như làng Ốp, làng Đak Pdram, làng Stơr, làng Đê K’Tu), cụm làng Phung – làng Kép tại xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh là những đơn vị sớm tiếp cận và triển khai mô hình du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát triển thực tế tại đây nảy sinh nhiều bất cập, đời sống của người dân chuyển biến chưa đồng bộ và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Phung – làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
  2. Nghiên cứu các ảnh hưởng của hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Phung – làng Kép lên đời sống sinh hoạt, kinh tế – xã hội và văn hóa của đồng bào Jrai.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phát triển hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng Phung – làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai cùng những tác động đa chiều của hoạt động này tới đời sống của cộng đồng bản địa Jrai.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn làng Phung và làng Kép (gồm Kép 1 và Kép 2), xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung theo dõi, đánh giá thực trạng phát triển du lịch và đời sống cư dân bản địa trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Công trình xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản pháp lý hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khái niệm và văn bản quản lý du lịch: Khái niệm du lịch theo Từ điển Oxford (1811), Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hội nghị Liên Hợp Quốc tại Roma (1963), Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966), Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999) và Luật Du lịch Việt Nam (2005).
  • Lý thuyết du lịch cộng đồng: Vận dụng định nghĩa của tổ chức REST (Responsible Ecological Social Tours - 1997) và quy định tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 ("Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi").
  • Nguyên tắc và mô hình: Nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng theo công trình lý luận của PGS.TS. Phạm Trung Lương (2002), Võ Quế (2006, Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng), Bùi Thị Hải Yến (2012, Du lịch cộng đồng), Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương (2007), kết hợp nguyên tắc du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2004).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu: Xử lý các nguồn tư liệu thành văn gồm sách chuyên ngành, báo cáo khoa học, khóa luận, đề án của địa phương, số liệu hành chính của UBND xã Ia Mơ Nông và Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Chư Păh.
  • Phương pháp thực địa (điền dã): Quan sát trực tiếp cảnh quan bản làng, nhà Rông, bến nước (giọt nước), khu nhà mồ, cơ sở hạ tầng giao thông và tình trạng vệ sinh môi trường để kiểm chứng tính xác thực của tư liệu văn bản.
  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Phỏng vấn sâu các đối tượng hữu quan tại địa phương, bao gồm đại diện chính quyền xã (Chủ tịch UBND xã Nguyễn Minh Châu, Phó Chủ tịch UBND xã Rchâm Bet), già làng (già Rơ Châm Úp), người điều hành doanh nghiệp lữ hành (đại diện Công ty TNHH MTV Du lịch Tây Nguyên Xanh) và người dân bản địa thông qua phiếu điều tra ý kiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận chung và tổng quan về xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai

Nội dung chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết về du lịch, tài nguyên du lịch, các tiêu chí phân loại hình thức du lịch, nguyên tắc, vai trò và mục tiêu của mô hình du lịch cộng đồng. Tiếp đó, tác giả trình bày bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Ia Mơ Nông:

  • Vị trí và địa hình: Xã thành lập năm 2009, nằm ở phía Bắc huyện Chư Păh, cách thị trấn Phú Hòa 17 km và cách TP. Pleiku 35 km; diện tích tự nhiên 5.219,03 ha (tọa độ từ 14°05’00” đến 14°15’00” vĩ độ Bắc, 107°52’30” đến 108°07’30” kinh độ Đông). Tỉnh lộ 661 chạy qua xã nối Quốc lộ 14 đi Nhà máy Thủy điện Ia Ly. Địa hình đồi núi chiếm 95% diện tích toàn xã, độ cao trung bình 860 m, đỉnh cao nhất là núi Chư Păh (1.842 m) và điểm thấp nhất là lòng hồ Ia Ly (khoảng 238 m).
  • Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa Tây Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10). Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,1°C, biên độ nhiệt ngày đêm từ 10°C đến 14°C; lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2.360 mm; độ ẩm không khí trung bình dao động từ 80% đến 83% (tháng 7 - 8 đạt trên 96,4%, tháng 3 - 4 thấp nhất khoảng 57,8%).
  • Tài nguyên du lịch: Tài nguyên thiên nhiên gắn với cảnh quan sông Sê San, hồ Ia Ly, hệ thống rừng đồi núi; tài nguyên văn hóa gắn với căn cứ di tích lịch sử và bản sắc tộc người Jrai.
  • Dân cư và lao động: Tính đến cuối năm 2016, toàn xã có 950 hộ với 4.088 nhân khẩu, trong đó dân tộc Jrai chiếm 82,87% (756 hộ với 3.388 nhân khẩu). Lực lượng lao động có 2.395 người (chiếm 51,1% dân số), chủ yếu làm nông nghiệp; tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 20%; giá trị ngày công lao động trung bình đạt 150.000 đồng/công.

Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển loại hình du lịch cộng đồng làng Phung – làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai

Tác giả phân tích nguồn gốc lịch sử dân tộc Jrai (truyền thuyết nàng Hơ Bia, Pơ tao ia, Pơ tao pui), hệ thống văn hóa vật chất (kiến trúc nhà sàn dài la-yun-pa kích thước 13,5 m x 3,5 m, nhà nhỏ Hđrung kích thước 3 m x 9 m cao không quá 4,5 m; trang phục vải dệt khung Inđônêsiên khổ rộng tối đa 1,1 m màu chàm ngả đen), văn hóa tinh thần (tín ngưỡng đa thần Yang sang, Yang ala bôn, Yang ia; lễ bỏ mả Pthi, tục cưa răng, xâu tai, trường ca Đăm San, Xinh Nhã, nhạc cụ đàn T’rưng, Krông put) và thiết chế xã hội mẫu hệ (làng Plơi/Bôn, dòng họ Kơ nung/Đgioai).

Về quá trình phát triển, làng Phung bắt đầu đón khách và biểu diễn sau sự kiện Festival Cồng chiêng Tây Nguyên 2009; làng Kép (gồm Kép 1 và Kép 2) bắt đầu tham gia làm du lịch từ năm 2013.

Chỉ số khảo sát Làng Phung Làng Kép
Quy mô diện tích ghi nhận 1.057 m² 1.140 m²
Số hộ gia đình 98 hộ (có thời điểm ghi nhận 107 hộ) 168 hộ (tổng cụm Kép 1 và 2 là 371 hộ)
Nhân khẩu 447 khẩu 717 khẩu
Số lượng nhà sàn truyền thống 52 nhà sàn 120 nhà sàn
Thời điểm bắt đầu làm DLCĐ Trước năm 2009 (rộ lên sau Festival) Từ năm 2013
Thực trạng hoạt động năm 2017 Ngưng trệ, dỡ bỏ nhà Rông Đang tiếp nhận khách tham quan chính

Khóa luận chỉ ra thực trạng khai thác du lịch tại hai làng bộc lộ các hạn chế nghiêm trọng:

  • Số lượng và thành phần khách: Lượng khách rất khiêm tốn, chủ yếu là khách nội địa ghé qua sau khi tham quan Thủy điện Ia Ly; khách quốc tế (Anh, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc) chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Khách chỉ đi về trong ngày, không lưu trú. Cơ quan quản lý không có sổ sách thống kê định kỳ; đến năm 2017, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Chư Păh ước tính có khoảng 7.000 lượt khách đến địa bàn theo hình thức tự phát.
  • Doanh thu và đời sống người dân: Doanh thu du lịch hàng năm của các hộ tham gia hoạt động chỉ dao động từ vài trăm ngàn đồng đến mức cao nhất là 2 đến 3 triệu đồng/năm. Đội văn nghệ cồng chiêng phục vụ trung bình 5 đến 6 đoàn khách/tháng, nhưng mức thù lao bồi dưỡng cho mỗi thành viên chỉ đạt 50.000 đồng/người/lần biểu diễn. Người dân vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào canh tác nông nghiệp và trồng cà phê.
  • Hạ tầng và sản phẩm: Tồn tại thực trạng "4 không" gồm: không quầy lưu niệm, không lưu trú, không ẩm thực và không nhà vệ sinh. Nghề tạc tượng, đan lát, dệt thổ cẩm chỉ phục vụ tự cung tự cấp hoặc làm nhà mồ chứ chưa trở thành hàng hóa du lịch. Nhà Rông lớn làng Kép 1 để chiêng bám bụi, đồ đạc ngổn ngang; nhà Rông tại làng Phung bị tháo dỡ và đốt bỏ khiến hoạt động đón khách tại làng Phung bị ngưng trệ hoàn toàn trong năm 2017.
  • Tác động đa chiều:
    • Kinh tế: Tạo thêm một phần sinh kế và thu nhập phụ, thúc đẩy dịch chuyển nhận thức ngành nghề dù tỷ trọng còn rất nhỏ.
    • Văn hóa – xã hội: Tạo cơ hội giao lưu văn hóa, giúp bà con Jrai cởi mở hơn; tuy nhiên nguy cơ mai một bản sắc tăng cao khi thanh niên trong làng không còn mặn mà học đánh cồng chiêng, chỉnh âm hay dệt vải, múa xoang.
    • Môi trường: Đường sá được bê tông hóa, xã trang bị thùng rác công cộng và xe thu gom hàng tuần, người dân chuyển sang dùng nước giếng khoan thay cho nước suối; song việc thiếu nhà vệ sinh công cộng và hệ thống xử lý nước thải tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch cộng đồng tại làng Phung - làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai

Tác giả phân tích cơ sở đề xuất giải pháp dựa trên xu hướng du lịch bền vững trên thế giới và kết quả khảo sát của tổ chức AC Nielson (do Tổ chức phát triển Hà Lan ủy thác): 65% du khách muốn trải nghiệm văn hóa bản địa; 54% muốn trải nghiệm thiên nhiên; 84% muốn ngắm danh thắng; 97% sẵn sàng chi trả thêm cho kỳ nghỉ thân thiện với môi trường hỗ trợ người nghèo; 70% sẵn sàng chi trả cho bảo vệ môi trường địa phương; 48% sẵn sàng trả thêm để trải nghiệm văn hóa và 45% sẵn sàng trả thêm cho quỹ từ thiện địa phương. Cùng với đó là bài học từ mô hình nông trại du lịch giải trí nông thôn tại Đài Loan và chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia tại Bali.

Trên cơ sở đó, 5 nhóm giải pháp được đề xuất:

  1. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng: Phục dựng các lễ hội truyền thống đúng nghi thức nguyên bản (lễ Pthi, lễ ăn cơm mới), vận động nghệ nhân truyền dạy kỹ thuật đánh cồng chiêng, múa xoang, dệt thổ cẩm, đan gùi và tạc tượng nhà mồ cho thế hệ trẻ.
  2. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ quyền lợi kinh tế; xây dựng cơ chế phân chia lợi nhuận minh bạch, khắc phục sự e dè, tư tưởng bình quân tuyệt đối hoặc rào cản tôn giáo để người dân chủ động làm chủ dịch vụ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào lữ hành.
  3. Đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ du lịch cơ bản cho người dân: Tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn tại chỗ về kỹ năng hướng dẫn, thuyết minh văn hóa, nghiệp vụ chế biến ẩm thực truyền thống, kỹ năng giao tiếp tiếng Việt và ngoại ngữ cơ bản, cũng như cách thức quản lý chi tiêu.
  4. Phát triển, nâng cao chất lượng các loại dịch vụ du lịch: Xóa bỏ tình trạng "4 không" bằng cách đầu tư xây dựng nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, chỉnh trang khuôn viên nhà Rông, quy hoạch điểm bán hàng lưu niệm (gùi nhỏ, khăn thổ cẩm, tượng gỗ mini), hình thành dịch vụ ẩm thực bản địa (cơm lam, gà nướng, rượu cần) và thí điểm dịch vụ lưu trú homestay tại nhà sàn đạt tiêu chuẩn an toàn.
  5. Quảng bá, tuyên truyền xúc tiến du lịch: Chính quyền huyện và xã phối hợp với các công ty lữ hành (như Công ty Du lịch Tây Nguyên Xanh) xây dựng tour tuyến chuyên nghiệp kết nối Thủy điện Ia Ly với làng Phung – làng Kép; thiết lập biển chỉ dẫn, phát hành tờ gấp thông tin và đẩy mạnh ứng dụng Internet để giới thiệu hình ảnh làng du lịch.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả dữ liệu thực tế: Khóa luận phản ánh chính xác các số liệu điền dã và dữ liệu hành chính tại địa bàn xã Ia Mơ Nông (cuối năm 2016 có 950 hộ, 4.088 nhân khẩu; dân tộc Jrai chiếm 82,87%; lao động qua đào tạo 20%; công nhật 150.000 đồng/ngày). Đưa ra con số thực tế về thu nhập du lịch của người dân địa phương (chỉ đạt 2 đến 3 triệu đồng/hộ/năm; bồi dưỡng biểu diễn cồng chiêng vỏn vẹn 50.000 đồng/người/lần; năm 2017 toàn huyện ước chừng 7.000 lượt khách ghé thăm tự phát).
  • Phát hiện khoa học: Làm rõ thực trạng nghịch lý của du lịch cộng đồng địa phương: dù làng Phung có lịch sử đón khách sớm hơn (từ năm 2009) nhưng đến năm 2017 đã bị dỡ bỏ nhà Rông và dừng đón khách; các hoạt động chuyển dồn sang làng Kép nhưng rơi vào tình trạng "4 không" (không lưu niệm, không lưu trú, không ẩm thực, không nhà vệ sinh).
  • Đóng góp ứng dụng: Cung cấp tài liệu khảo sát điền dã thực tế cho các cơ quan chuyên trách như Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Chư Păh và UBND xã Ia Mơ Nông trong việc nhìn nhận đúng các rào cản (ngôn ngữ, tôn giáo, tư duy bao cấp bình quân, thiếu hạ tầng) nhằm điều chỉnh các đề án quy hoạch du lịch cộng đồng theo hướng bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Thời gian thực hiện khóa luận có hạn; nguồn tư liệu thống kê du lịch từ các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chưa đầy đủ và thiếu tính liên tục qua các năm (các con số lượt khách chủ yếu mang tính ước lượng).
    • Khó khăn lớn trong quá trình điền dã do rào cản ngôn ngữ và tâm lý e dè của đồng bào dân tộc bản địa; sổ tay ghi chép tư liệu đón khách quý giá của già làng Rơ Châm Úp bị thất lạc khi gia đình dỡ nhà xây mới, dẫn đến sự thiếu hụt chuỗi số liệu lưu trữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế liên kết chuỗi giá trị giữa đơn vị lữ hành, chính quyền cơ sở và cộng đồng dân cư Jrai; đánh giá tác động sâu hơn về mặt biến đổi xã hội học và nhân học văn hóa khi các dự án đầu tư hàng rào, chỉnh trang nhà Rông tại làng Kép 2 hoàn thiện sau năm 2017.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các ngành Lịch sử, Quản lý Văn hóa, Du lịch, Văn hóa học và Dân tộc học khi tiếp cận đề tài nghiên cứu về Tây Nguyên. Phần khảo cứu chi tiết về văn hóa Jrai (từ cấu trúc nhà sàn la-yun-pa, kỹ thuật dệt khung Inđônêsiên, luật tục mẫu hệ, phong tục bói đất 7 hạt gạo đến lễ Pthi) có giá trị tư liệu tốt cho các bài tập chuyên đề văn hóa dân gian. Đồng thời, các số liệu thực tế về thực trạng "4 không" và phản hồi của người làm du lịch địa phương là dẫn chứng thực tiễn đáng tham khảo cho các cán bộ phụ trách công tác quy hoạch, xúc tiến du lịch cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khái quát thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại làng Phung và làng Kép qua hiện trạng nào?
Tác giả đúc kết điểm đến tại hai làng bằng mô hình "4 không": không quầy lưu niệm, không cơ sở lưu trú, không dịch vụ ẩm thực và không có nhà vệ sinh công cộng; cơ sở vật chất tại nhà Rông rất sơ sài, bừa bãi và nhạc cụ cồng chiêng bị bám bụi bẩn.

2. Mức thù lao của nghệ nhân/người dân khi tham gia biểu diễn cồng chiêng phục vụ khách du lịch tại làng là bao nhiêu?
Người dân tham gia đội cồng chiêng chỉ nhận được khoản bồi dưỡng ít ỏi là 50.000 đồng/người/lần biểu diễn. Với tần suất trung bình 5 đến 6 đoàn khách/tháng và không phải đoàn nào cũng yêu cầu biểu diễn, khoản thu này hoàn toàn không đủ trang trải đời sống nên người dân vẫn phải làm nương rẫy là chính.

3. Vì sao hoạt động du lịch tại làng Phung lại bị gián đoạn và đình trệ trong năm 2017?
Theo phản ánh của già làng Rơ Châm Úp, nhà Rông của làng Phung đã bị dỡ bỏ và đốt, làng không còn thiết chế sinh hoạt chung để đón tiếp du khách ngoại trừ khu nhà mồ và bến nước. Người dân không còn mặn mà làm du lịch mà chuyển sang tập trung làm nương rẫy cà phê, dẫn đến việc các đoàn khách trong năm 2017 chỉ chuyển hướng ghé thăm làng Kép.

4. Số lượng khách du lịch đến làng Phung – làng Kép năm 2017 được cơ quan quản lý ghi nhận như thế nào?
Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Chư Păh không có sổ sách theo dõi thống kê chi tiết qua từng năm, mà chỉ ước chừng có khoảng 7.000 lượt khách tham quan trong năm 2017; phần lớn khách đi tự phát, kết hợp ghé thăm làng sau chuyến tham quan Nhà máy Thủy điện Ia Ly rồi quay về TP. Pleiku trong ngày.

5. Cơ cấu dân số và lao động tại xã Ia Mơ Nông có đặc điểm gì ảnh hưởng đến nguồn nhân lực du lịch?
Đến cuối năm 2016, xã có 4.088 nhân khẩu với 82,87% là người Jrai; lực lượng lao động chiếm 51,1% dân số nhưng chủ yếu làm nông nghiệp đơn thuần, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 20%, thiếu kiến thức chuyên môn du lịch và gặp rào cản về tiếng phổ thông cũng như ngoại ngữ.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Thị Thanh Phương đã phản ánh bức tranh chân thực, khách quan về thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng Phung và làng Kép (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) giai đoạn 2010 – 2017. Công trình làm nổi bật tiềm năng phong phú về cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa Jrai, đồng thời chỉ rõ sự đứt gãy về hạ tầng, tính tự phát của dịch vụ và sự thụ động của cư dân bản địa trước bài toán sinh kế du lịch. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất là cơ sở thực tế giúp chính quyền địa phương và các đơn vị lữ hành tái cơ cấu mô hình quản lý, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng bền vững và bảo tồn di sản văn hóa Tây Nguyên.