Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai" được thực hiện bởi sinh viên Ly Seo Việt, chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2021) dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Xuân Luận.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, du lịch được định vị là một trong những ngành kinh tế then chốt. Xu hướng du lịch toàn cầu và trong nước ngày càng dịch chuyển mạnh mẽ về các khu vực miền núi hoang sơ, giàu bản sắc văn hóa bản địa, hình thành nên loại hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) là vùng đất hội tụ nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên và đa dạng sắc màu văn hóa dân tộc. Trong đó, xã Bản Phố là địa bàn cư trú lâu đời của đồng bào người Mông (chiếm tới 99% dân số toàn xã với gần 500 hộ gia đình tại thời điểm nghiên cứu). Xã nổi tiếng với sản phẩm thủ công truyền thống rượu ngô Bản Phố, các dải ruộng bậc thang, cánh đồng hoa cải trắng, vườn mận tam hoa và các lễ hội dân gian đặc sắc.

Mặc dù có tiềm năng phong phú, hoạt động du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố chỉ mới bước đầu hình thành trong những năm gần đây, công tác khai thác còn mang tính tự phát, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Việc phân tích, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển và khả năng tiếp cận các nguồn lực kinh tế của người dân địa phương là yêu cầu cấp thiết nhằm định hướng phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng và các hoạt động kinh tế liên quan tại xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
    2. Phân tích các yếu tố thuận lợi, rào cản và khó khăn của các hộ dân khi tham gia hoạt động du lịch cộng đồng.
    3. Đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển hiệu quả và bền vững trên địa bàn xã.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thực trạng, tiềm năng, thuận lợi, khó khăn và các điều kiện kinh tế hộ trong phát triển du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2018–2020; số liệu sơ cấp được khảo sát và phỏng vấn trực tiếp từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/05/2021.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

  • Ý nghĩa khoa học: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động sinh kế du lịch và việc tiếp cận các dịch vụ tài chính, ngân hàng của hộ nông hộ.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng hoạt động của 100% các hộ làm du lịch tại xã Bản Phố; chỉ ra các điểm nghẽn về nhân lực, vốn, ngoại ngữ và hạ tầng, qua đó cung cấp luận cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương xây dựng quy hoạch du lịch nông thôn gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

  • Du lịch và Du lịch bền vững: Tiếp cận theo khái niệm chuẩn hóa về hoạt động du lịch và du lịch bền vững (bảo đảm cân bằng giữa lợi ích kinh tế, bảo tồn văn hóa - môi trường tự nhiên và nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương).
  • Du lịch cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT): Khẳng định vai trò của cộng đồng địa phương là chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng, trực tiếp quản lý, khai thác và thụ hưởng lợi ích kinh tế.
  • Các hình thức du lịch cộng đồng: Khóa luận phân định 6 hình thức chủ yếu gồm: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp (agritourism), du lịch bản địa, du lịch làng bản và du lịch gắn với nghệ thuật - làng nghề thủ công truyền thống.
  • Tiêu chuẩn và nguyên tắc: Áp dụng 9 nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng và hệ thống tiêu chí du lịch cộng đồng theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2008), nhấn mạnh quyền tham gia lập kế hoạch, tính công bằng trong phân phối lợi ích và bảo tồn cấu trúc văn hóa bản địa.
  • Cơ sở thực tiễn: Đúc kết bài học kinh nghiệm từ mô hình kết hợp công - nông nghiệp và phi tập trung hóa sản xuất của Nhật Bản; mô hình du lịch cộng đồng Mộc Châu (Sơn La) gắn với khí hậu và nông nghiệp; mô hình du lịch homestay gắn với chuỗi giá trị cây dừa tại Bến Tre.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa và tổng hợp các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2018–2020 do Ủy ban nhân dân xã Bản Phố ban hành; các tài liệu chuyên khảo, số liệu từ Tổng cục Du lịch và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Du lịch 2017).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Địa bàn khảo sát: Toàn bộ 11 thôn thuộc xã Bản Phố.
    • Chọn mẫu điều tra: Thực hiện điều tra toàn diện (tổng điều tra) trên toàn bộ $n = 31$ hộ gia đình đang trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng trên địa bàn xã tại thời điểm đầu năm 2021.
    • Công cụ thu thập: Sử dụng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc và bảng hỏi soạn sẵn để phỏng vấn trực tiếp chủ hộ về nhân khẩu, lao động, học vấn, doanh thu, chi phí, nguồn vốn vay và đánh giá thuận lợi, khó khăn.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
    • Rà soát, chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu điều tra thực địa.
    • Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) để tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế hộ.
    • Phương pháp so sánh - đối chiếu theo chuỗi thời gian (2018–2020) và so sánh giữa các nhóm hộ (hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo/cận nghèo) nhằm nhận diện xu hướng biến động và mức độ phân hóa sinh kế.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu trong bối cảnh phát triển kinh tế du lịch nông thôn tại huyện Bắc Hà, xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu là các hộ kinh doanh du lịch, phạm vi không gian tại xã Bản Phố trong giai đoạn 2018–2021, đồng thời nêu rõ ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hệ thống hóa toàn diện các khái niệm lý luận về du lịch, du lịch bền vững và bản chất của du lịch cộng đồng; phân tích 4 điều kiện hình thành (tài nguyên tự nhiên/nhân văn, yếu tố con người cộng đồng, tiềm năng thị trường và chính sách nhà nước); làm rõ vai trò của du lịch cộng đồng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và giảm nghèo; trình bày tiêu chí UNWTO (2008) và các tác động kinh tế - xã hội. Đồng thời, chương này tổng thuật kinh nghiệm thực tiễn từ Nhật Bản, Sơn La, Bến Tre và rút ra các bài học về sự đồng thuận cộng đồng, hỗ trợ chính sách và vai trò của nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết phương pháp tiếp cận nghiên cứu; mô tả đặc điểm chọn mẫu điều tra toàn bộ 31 hộ hoạt động du lịch tại 11 thôn của xã Bản Phố; thiết kế quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp từ UBND xã và dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn bảng hỏi trực tiếp trong khoảng thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 05/2021; thiết lập khung phân tích thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

  • Điều kiện tự nhiên: Xã Bản Phố cách trung tâm thị trấn Bắc Hà 4 km về hướng Tây Bắc (bản chính cách 2,5 km), diện tích tự nhiên là 1.802,12 ha, phân bố thành 11 thôn, địa hình đồi núi bao quanh xen kẽ ruộng bậc thang. Đất nông nghiệp chiếm phần lớn (1.584 ha), tuy nhiên đất lâm nghiệp có xu hướng giảm nhẹ từ 527,16 ha (năm 2019) xuống 513,48 ha (năm 2020), đất chưa sử dụng tăng từ 118,29 ha lên 132,00 ha do tác động của quy hoạch hạ tầng nông thôn mới.
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số toàn xã năm 2020 có 3.850 người với 786 hộ thuộc 4 dân tộc sinh sống (H’Mông, Kinh, Tày, La Chí). Tỷ lệ hộ nông nghiệp chiếm 87,03% (684 hộ), hộ phi nông nghiệp chiếm 12,97% (102 hộ). Lao động nông nghiệp chiếm 89,6% lực lượng lao động; lao động thương mại - dịch vụ chiếm 9,1% (184 người), tăng so với mức 8,3% của năm 2018 nhờ sự phát triển của du lịch. 100% số hộ đã có điện lưới quốc gia; hệ thống đường giao thông liên thôn được bê tông hóa; trạm y tế và trường học được đầu tư kiên cố.
Chỉ tiêu đất đai (Năm 2020) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Biến động so với 2019 (ha)
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.802,12 100,00 0,00
1. Đất nông nghiệp 1.571,21 87,19 -23,91
- Đất trồng cây hàng năm khác 780,82 43,32 -0,03
- Đất trồng cây lâu năm 44,07 2,45 0,00
- Đất lâm nghiệp 513,48 28,49 -13,68
- Đất nuôi trồng thủy sản 0,07 0,00 0,00
2. Đất phi nông nghiệp 98,91 5,49 0,00
3. Đất chưa sử dụng 132,00 7,33 +13,71

4.2. Tiềm năng du lịch cộng đồng xã Bản Phố

  • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm $20^\circ\text{C}$ (dao động $18 - 24^\circ\text{C}$), lượng mưa trung bình 1.200 mm (tập trung 80% vào các tháng 5, 6, 7, 8), độ ẩm 85–90%. Đối chiếu với bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học người của Tổng cục Du lịch, vùng nghiên cứu nằm trong thang đo "Rất thích nghi" cho hoạt động nghỉ dưỡng.
  • Thủy văn: Hệ thống suối Bản Phố bắt nguồn từ thôn Bản Phố 1 chảy về thị trấn Bắc Hà, địa hình dốc lòng hẹp gây lũ vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô.
  • Tài nguyên nhân văn: Nghề nấu rượu ngô thủ công truyền thống; cảnh quan hoa mận, hoa lê, hoa cải và ruộng bậc thang từ tháng 9 đến tháng 11; Lễ hội Gầu tào của người Mông (tổ chức từ mùng 2 đến mùng 4 tháng Giêng, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 12/2012).

4.3. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã

  • Lượng khách du lịch: Năm 2018 toàn xã đón 98.000 lượt khách (nội địa 47.000 lượt, quốc tế 51.000 lượt). Đến năm 2020, tổng lượng khách đạt 192.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 112.000 lượt (chiếm 58,33%), khách nội địa đạt 80.000 lượt (chiếm 41,67%).
  • Cơ sở hạ tầng du lịch: Toàn xã có 3 cơ sở homestay tự kinh doanh được cấp phép gồm: Sồ homestay (Bản Phố 2, quy mô 3 phòng/5 giường), Chô Family (Phéc Bủng, quy mô 7 phòng/9 giường), Highland homestay (Bản Phố 2, quy mô 5 phòng/5 giường). Cơ sở dịch vụ có 4 điểm tiêu biểu gồm Quán Quang Vinh (tạp hóa), Quán Trung Nguyệt (ăn uống, bia hơi), Quán Quỳnh (ăn uống) và hộ Giàng Áo (vận tải đưa đón khách).
  • Đặc điểm 31 hộ điều tra:
    • Quy mô lao động du lịch: Tổng số có 90 lao động tham gia du lịch trong 31 hộ. Hộ có 1–2 lao động làm du lịch chiếm đa số (hộ khá chiếm 35,48%, hộ trung bình 19,35%, hộ nghèo/cận nghèo 9,68%). Hộ có 3–4 lao động chiếm tỷ lệ thấp (khá: 16,13%, trung bình: 12,91%). Hộ có trên 5 lao động chỉ có ở nhóm hộ khá (6,45%).
    • Độ tuổi: Nhóm lao động từ 15–60 tuổi chiếm chủ lực (hộ trung bình 54,67%, hộ khá 23,33%, hộ nghèo/cận nghèo 9,33%). Lao động dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,67% - 5,34%); lao động trên 60 tuổi chiếm 1,33% (hộ nghèo) và 3,33% (hộ khá).
    • Trình độ học vấn: Trình độ chung ở mức trung bình - thấp: Cấp II chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,2% (29 người), Cấp I chiếm 21,1% (19 người), Cấp III chiếm 20,0% (18 người), Trung cấp - Cao đẳng chiếm 12,2% (11 người), Mù chữ chiếm 10,0% (9 người), Đại học chỉ chiếm 4,5% (4 người).
Nhóm trình độ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Mù chữ 9 10,0
Cấp I (Tiểu học) 19 21,1
Cấp II (Trung học cơ sở) 29 32,2
Cấp III (Trung học phổ thông) 18 20,0
Trung cấp - Cao đẳng 11 12,2
Đại học 4 4,5
Tổng số 90 100,0
  • Hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra (Bình quân hộ/tháng):
    • Nhóm hộ khá có doanh thu từ hoạt động du lịch đạt khoảng 8.900.000 đồng/tháng, tổng chi phí 5.020.000 - 5.880.000 đồng/tháng, lợi nhuận bình quân đạt khoảng 3.000.000 - 3.880.000 đồng/tháng.
    • Các nguồn thu từ du lịch gồm: bán quà lưu niệm (đặc biệt là rượu ngô và thổ cẩm mang lại nguồn thu lớn nhất), hướng dẫn viên (2.000.000 đồng/tháng ở hộ khá), dịch vụ lưu trú (900.000 - 1.000.000 đồng/tháng), dịch vụ tắm lá thuốc (800.000 - 1.100.000 đồng/tháng), thuê phương tiện (600.000 - 700.000 đồng/tháng), biểu diễn nghệ thuật (200.000 - 250.000 đồng/tháng).
    • Chi phí chủ yếu gồm: nguyên vật liệu chế biến ăn uống/vật tư (2.000.000 đồng), trả lương nhân viên (2.540.000 đồng ở hộ khá), điện nước (150.000 - 360.000 đồng), marketing/biển quảng cáo (76.000 - 200.000 đồng), thuế (80.000 - 152.000 đồng) và trả lãi ngân hàng (50.000 - 123.000 đồng).

4.4. Đánh giá thuận lợi và khó khăn

  • Thuận lợi: 38,7% số hộ nhận định du lịch giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống; 29,0% đánh giá giúp tạo việc làm tại chỗ; 16,1% ghi nhận sự ưu đãi và hỗ trợ từ chính quyền địa phương; 9,7% nâng cao kiến thức xã hội; 6,5% ghi nhận lợi ích từ việc nâng cấp cơ sở hạ tầng.
  • Khó khăn: 100% số hộ (31/31 hộ) chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19; 35,5% số hộ gặp trở ngại lớn nhất về rào cản ngoại ngữ khi phục vụ khách quốc tế; 29,0% hộ thiếu kinh nghiệm quản lý và kỹ năng tiếp đón; 22,6% hộ thiếu vốn đầu tư cơ sở vật chất; 12,9% hộ phản ánh không tiếp cận được các hỗ trợ chính sách do ít tham gia sinh hoạt cộng đồng.
Nội dung rào cản / khó khăn Số hộ đồng thuận (ý kiến) Tỷ lệ (%)
Dịch bệnh Covid-19 31 100,0
Trình độ ngoại ngữ hạn chế 11 35,5
Thiếu kinh nghiệm và kỹ năng nghiệp vụ 9 29,0
Thiếu vốn đầu tư mở rộng 7 22,6
Không nhận được sự hỗ trợ thông tin/chính sách 4 12,9
  • Tình hình tiếp cận tín dụng ngân hàng: Trong 3 năm khảo sát, phần lớn các hộ có vay vốn. Hai kênh chính là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) với hạn mức vay cao hơn nhưng yêu cầu thế chấp tài sản, lãi suất khoảng 1,08%/tháng; và Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) cho vay định mức chính sách theo hình thức tín chấp thông qua ủy thác Hội Nông dân, Hội Phụ nữ với mức lãi suất ưu đãi 0,66%/tháng.

4.5. Các nhóm giải pháp đề xuất

  1. Cơ sở hạ tầng và vật chất: Xây dựng hồ chứa nước, bể trữ nước mưa, giếng khoan khắc phục tình trạng thiếu nước mùa khô; mở rộng số lượng và tiêu chuẩn phòng nghỉ homestay; tôn tạo di tích và duy trì lễ hội văn hóa bản địa.
  2. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Mở lớp tập huấn nghiệp vụ lễ tân, thuyết minh, nấu ăn ẩm thực dân tộc; tổ chức lớp học tiếng Anh giao tiếp và các cuộc thi nói tiếng Anh; tổ chức cho người dân đi tham quan học tập thực tế các mô hình du lịch cộng đồng thành công.
  3. Bảo vệ môi trường: Thiết lập hệ thống thu gom và phân loại rác thải du lịch tập trung, giữ gìn vệ sinh nguồn nước và cảnh quan sinh thái.
  4. Tổ chức và quản lý: Quản lý chặt chẽ mặt bằng kinh doanh, ưu tiên người bản địa làm du lịch; tạo điều kiện lập hồ sơ vay vốn ưu đãi; quy hoạch làng nghề nấu rượu ngô và phát triển các tuyến điểm tham quan mới.
  5. Nâng cấp chất lượng dịch vụ: Khôi phục các làn điệu dân ca, điệu múa xòe, múa quạt, nhạc cụ dân tộc; chuẩn hóa dịch vụ tắm lá thuốc người Mông và phương tiện đưa đón.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các đánh giá cốt lõi về tiềm năng, thành tựu và rào cản; đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Ủy ban nhân dân xã Bản Phố (hoàn thiện tiêu chí văn hóa du lịch nông thôn mới, kết nối tour tuyến với doanh nghiệp lữ hành, hỗ trợ lãi suất) và đối với các hộ dân địa phương (chủ động vay vốn, học hỏi kỹ năng, đoàn kết liên kết sản xuất và giữ gìn bản sắc truyền thống).


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực chứng:

  • Hệ thống hóa toàn bộ số liệu sử dụng đất (1.802,12 ha) và dân số (3.850 nhân khẩu, 786 hộ với 87,03% làm nông nghiệp) tại xã Bản Phố năm 2020.
  • Khẳng định sự tăng trưởng về lượng khách du lịch từ 98.000 lượt (năm 2018) lên 192.000 lượt (năm 2020), trong đó tỷ trọng khách quốc tế chiếm ưu thế rõ rệt (58,33% với 112.000 lượt khách).
  • Khảo sát chi tiết hiện trạng hạ tầng lưu trú gồm 3 cơ sở homestay tự phát với quy mô nhỏ (Sồ homestay: 3 phòng; Highland homestay: 5 phòng; Chô Family: 7 phòng) và mạng lưới 4 điểm dịch vụ phục vụ du khách.
  • Đo lường cơ cấu học vấn của 90 lao động du lịch: có tới 63,3% lao động có trình độ từ cấp II trở xuống (trong đó 10% mù chữ) và chỉ có 4,5% có trình độ đại học.
  • Xác định hiệu quả kinh tế: Hoạt động du lịch mang lại lợi nhuận ròng bình quân từ 1.000.000 đến 3.880.000 đồng/hộ/tháng tùy theo nhóm hộ; trong đó nguồn thu cao nhất đến từ quà lưu niệm (rượu ngô, thổ cẩm) và dịch vụ hướng dẫn viên bản địa.
  • Làm rõ thực trạng tiếp cận tài chính: Phân biệt rõ hai dòng vốn vay của hộ DTTS qua Agribank (thế chấp, lãi suất 1,08%/tháng) và NHCSXH (tín chấp ủy thác, lãi suất 0,66%/tháng).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ: tăng cường hạ tầng thủy lợi/nước sinh hoạt mùa khô và cơ sở lưu trú; đào tạo kỹ năng nghiệp vụ và tiếng Anh thực hành; xây dựng quy trình thu gom rác thải du lịch; đổi mới cơ chế quản lý mặt bằng và quy hoạch làng nghề; phục dựng các giá trị văn hóa phi vật thể (lễ hội Gầu tào, múa xòe, khèn Mông).
  • Kiến nghị UBND xã tăng cường liên kết với các công ty lữ hành liên tỉnh và ban hành cơ chế hỗ trợ bù lãi suất ngân hàng cho các hộ đầu tư homestay.

Đóng góp của khóa luận:

  • Là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp khảo sát toàn diện (100% mẫu hộ tham gia du lịch) tại xã Bản Phố ở cấp độ vi mô.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực địa có độ tin cậy cao về cơ cấu chi phí, doanh thu, học vấn và rào cản tín dụng của đồng bào dân tộc thiểu số khi chuyển đổi sinh kế sang du lịch cộng đồng tại cao nguyên Bắc Hà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô mẫu nghiên cứu dừng lại ở 31 hộ gia đình tham gia làm du lịch trên phạm vi một xã đơn lẻ (xã Bản Phố), chưa mở rộng so sánh liên xã trong toàn huyện Bắc Hà (như Tả Chải, Na Hối, Tả Van Chư).
    • Thời điểm khảo sát thực địa (tháng 02/2021 đến tháng 05/2021) trùng với đợt bùng phát của đại dịch Covid-19, dẫn đến các số liệu về doanh thu, lượng khách và chi phí phản ánh tính thời điểm và bị suy giảm cục bộ so với điều kiện hoạt động bình thường.
    • Các chỉ tiêu tài chính kinh tế hộ (thu nhập, chi phí nguyên vật liệu) chủ yếu dựa trên trí nhớ và ước lượng bình quân tháng của các chủ hộ, chưa có sổ sách kế toán ghi chép bài bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch cộng đồng kết nối các điểm đến trên toàn huyện Bắc Hà và liên tỉnh Lào Cai - Hà Giang.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình liên kết chuỗi giá trị sản phẩm OCOP (rượu ngô Bản Phố, chè Shan tuyết, mận Tam hoa) gắn với không gian trải nghiệm du lịch nông nghiệp bền vững.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học các ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Văn hóa học tham khảo phương pháp luận và cách thiết kế bảng hỏi khảo sát hộ dân tộc thiểu số.
    • Cán bộ quản lý kinh tế, nông nghiệp và văn hóa - xã hội cấp huyện, xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc tham khảo để xây dựng đề án phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng nông thôn mới.
    • Các hộ nông dân, hợp tác xã nông nghiệp tại các địa bàn có điều kiện tương đồng tham khảo kinh nghiệm tổ chức dịch vụ homestay, kiểm soát chi phí và tiếp cận vốn tín dụng chính sách.
  • Nội dung đáng tham khảo: Bộ số liệu thực chứng về cơ cấu doanh thu - chi phí của các nhóm hộ (Bảng 4.10, 4.11, 4.12), cơ cấu học vấn của lao động du lịch (Bảng 4.9) và quy trình tổ chức du lịch dựa trên sản phẩm làng nghề truyền thống rượu ngô Bản Phố.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực tế trong khóa luận được tiến hành trên quy mô bao nhiêu hộ và trong thời gian nào?
Trả lời: Tác giả tiến hành điều tra toàn diện trên toàn bộ $n = 31$ hộ gia đình đang trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng tại xã Bản Phố. Thời gian thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/05/2021; số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2018–2020.

2. Lượng khách du lịch và cơ cấu du khách đến xã Bản Phố năm 2020 đạt mức bao nhiêu?
Trả lời: Năm 2020, xã Bản Phố đón 192.000 lượt khách du lịch. Trong đó, lượng khách quốc tế chiếm ưu thế với 112.000 lượt (tỷ lệ 58,33%), lượng khách nội địa đạt 80.000 lượt (tỷ lệ 41,67%).

3. Tính đến thời điểm nghiên cứu, hệ thống cơ sở lưu trú homestay tại xã Bản Phố gồm những cơ sở nào?
Trả lời: Toàn xã có 3 cơ sở lưu trú homestay tự kinh doanh đã được cấp phép gồm: Sồ homestay (tại thôn Bản Phố 2, quy mô 3 phòng, 5 giường), Chô Family (tại thôn Phéc Bủng, quy mô 7 phòng, 9 giường) và Highland homestay (tại thôn Bản Phố 2, quy mô 5 phòng, 5 giường).

4. Trình độ học vấn của người lao động tham gia hoạt động du lịch tại 31 hộ điều tra như thế nào?
Trả lời: Tổng số có 90 lao động trực tiếp tham gia du lịch trong 31 hộ; trình độ học vấn ở mức trung bình - thấp: Cấp II chiếm 32,2% (29 người), Cấp I chiếm 21,1% (19 người), Cấp III chiếm 20,0% (18 người), Trung cấp - Cao đẳng chiếm 12,2% (11 người), Mù chữ chiếm 10,0% (9 người) và Đại học chỉ chiếm 4,5% (4 người).

5. Điều kiện tiếp cận các nguồn vốn vay ngân hàng của các hộ làm du lịch tại xã Bản Phố diễn ra ra sao?
Trả lời: Các hộ tiếp cận hai kênh tín dụng chính: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) cho vay hạn mức cao hơn nhưng bắt buộc phải có tài sản thế chấp với mức lãi suất khoảng 1,08%/tháng; Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) cho vay theo hạn mức chính sách cố định với lãi suất ưu đãi 0,66%/tháng thông qua hình thức tín chấp ủy thác qua Hội Nông dân và Hội Phụ nữ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ly Seo Việt đã phản ánh một cách chân thực và có căn cứ khoa học về hiện trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã vùng cao Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Thông qua việc khảo sát toàn diện 31 hộ kinh doanh du lịch, đề tài đã định lượng rõ hiệu quả kinh tế, cơ cấu nguồn thu và những rào cản lớn về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng nghiệp vụ và nguồn vốn đầu tư của đồng bào dân tộc H'Mông. Các giải pháp đề xuất về nâng cấp hạ tầng cấp nước, bồi dưỡng nhân lực và hoàn thiện cơ chế tín dụng có tính ứng dụng cao, đóng góp thiết thực cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn bền vững tại địa phương.