Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Bảo tồn và phát huy giá trị nhân văn trong phát triển du lịch tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh" được thực hiện trong bối cảnh ngành du lịch ngày càng khẳng định vị trí là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội và quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc. Huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là vùng đất có bề dày lịch sử, sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú bao gồm hệ thống di tích lịch sử - cách mạng, các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng (đình, đền, chùa), các lễ hội truyền thống đặc sắc và các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian.
Tuy nhiên, thực tiễn khai thác tài nguyên du lịch văn hóa tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Việc khai thác tiềm năng văn hóa chưa được tiến hành đồng bộ và triệt để, hoạt động kinh doanh du lịch còn mang tính chất "ăn xổi", thiếu các dịch vụ bổ trợ và cơ sở lưu trú để giữ chân du khách dài ngày. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nhân văn gắn với phát triển du lịch bền vững tại Can Lộc là vấn đề có tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn quản lý văn hóa.
Văn bản xác định cụ thể các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
- Khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch văn hóa nhân văn trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh phục vụ phát triển kinh tế du lịch.
- Quảng bá hình ảnh văn hóa, con người quê hương Can Lộc đến bạn bè trong nước và quốc tế.
- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nhân văn gắn với phát triển du lịch.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nhân văn trong phát triển du lịch.
- Khảo sát, tìm hiểu hệ thống di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, đình đền và các hình thức diễn xướng dân gian tại huyện Can Lộc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nhân văn gắn với phát triển du lịch tại địa phương.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Di tích lịch sử - cách mạng, lễ hội truyền thống, hệ thống đình đền và các làn điệu dân ca diễn xướng dân gian trên địa bàn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (gồm 1 thị trấn và 22 xã). Các điểm di tích khảo sát trọng điểm bao gồm: Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Bến đò Thượng Trụ, Cụm di tích Ngã ba Nghèn, Làng K130; Lễ hội chùa Hương Tích, chùa Chân Tiên; Đền Tam Lang, Đền thờ Đặng Tất - Đặng Dung, Đền thờ Nguyễn Huy Oánh, Đền thờ Nguyễn Huy Tự; Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và Hát phường vải Trường Lưu.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu và khảo sát thực tế giai đoạn 2018 - 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc tiếp cận các định nghĩa và khái niệm học thuật chuẩn mực:
- Văn hóa: Trích dẫn định nghĩa của UNESCO về tính tổng thể sống động của hoạt động sáng tạo hình thành nên hệ thống giá trị và bản sắc dân tộc; quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa như phương thức thích ứng sinh tồn; định nghĩa của GS. Trần Ngọc Thêm (1999) về hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần; định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt (1998, do Nguyễn Như Ý chủ biên).
- Giá trị văn hóa nhân văn: Là các chuẩn mực để cộng đồng xác định điều mong muốn, định hình nhân sinh quan và hành vi xã hội.
- Bảo tồn và phát huy: Tiếp cận theo Từ điển tiếng Việt, bảo tồn là giữ lại không để mai một, biến dạng dạng thức vốn có; phát huy là đưa giá trị văn hóa vào thực tiễn xã hội, biến di sản thành nguồn nội lực phát triển.
- Du lịch, Du lịch văn hóa và Du lịch văn hóa nhân văn: Căn cứ theo Điều 4 Luật Du lịch năm 2017; Luật Du lịch năm 2005 (khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn); nghiên cứu của tác giả Dương Văn Sáu về du lịch văn hóa.
Khóa luận dẫn chiếu các văn bản pháp luật, chủ trương của Đảng và Nhà nước làm căn cứ định hướng:
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội VII, năm 1991).
- Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/06/2014 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
- Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 10/07/2013 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc ban hành quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Nghị quyết số 93/2018/NQ-HĐND ngày 18/07/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Ca trù, Truyện Kiều, Mộc bản Trường học Phúc Giang và Hoàng hoa sứ trình đồ, giai đoạn 2018 - 2025 và những năm tiếp theo.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Hệ thống hóa các báo cáo, tài liệu lịch sử, sách chuyên khảo và văn bản quản lý nhà nước.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và phỏng vấn: Tiến hành quan sát hiện trạng tại các điểm đến; ghi nhận ý kiến trao đổi của cán bộ chuyên trách (bà Trần Thị Thu Hà - Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Can Lộc; ông Võ Thành Chung - Trưởng Ban Quản lý Khu du lịch chùa Hương Tích) và khách tham quan (chị Nguyễn Thị Hoa Mai - du khách Hà Nội).
- Phương pháp liệt kê, thống kê: Phân loại hệ thống di tích, xử lý số liệu khách du lịch và nguồn thu ngân sách.
- Phương pháp logic - lịch sử: Phân tích quá trình hình thành, phát triển của các di sản văn hóa và bối cảnh lịch sử tại Can Lộc.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của UBND huyện Can Lộc giai đoạn 2019 - 2021, dữ liệu hoạt động của Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Ban Quản lý Khu du lịch chùa Hương Tích và 6 đề tài khoa học đã công bố liên quan đến di sản văn hóa Can Lộc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nhân văn trong phát triển du lịch
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng trong nghiên cứu văn hóa và du lịch. Tác giả phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch: văn hóa cung cấp tài nguyên, nội dung và tạo nên sức hấp dẫn đặc trưng cho sản phẩm du lịch; ngược lại, du lịch là phương thức kinh tế tạo ra nguồn thu để tái đầu tư trùng tu di tích, phục hồi các sinh hoạt văn hóa dân gian và lan tỏa giá trị di sản. Chương 1 cũng hệ thống hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước và quy định của tỉnh Hà Tĩnh, khẳng định mục tiêu phát triển du lịch phải gắn liền với việc giữ gìn bản sắc và tính toàn vẹn của di sản văn hóa.
Chương II: Tiềm năng du lịch và thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhân văn trong phát triển du lịch tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên văn hóa nhân văn tại huyện Can Lộc:
- Điều kiện địa lý và kinh tế: Can Lộc nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh (tọa độ 18°20'20'' - 18°32'59'' vĩ Bắc, 105°37'43'' - 105°49'49'' kinh Đông), diện tích tự nhiên 302 km² (theo số liệu địa giới) hoặc 373,03 km² (theo số liệu thống kê của UBND huyện), dân số 175.298 người, mật độ 473 người/km², gồm 23 đơn vị hành chính (thị trấn Nghèn và 22 xã). Địa bàn có hệ thống giao thông huyết mạch đi qua như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 15, Tỉnh lộ 6, 7, 12. Trong 9 tháng đầu năm 2021, thu ngân sách của huyện ước đạt 185 tỷ đồng (bằng 102,7% kế hoạch); nguồn vốn đầu tư công ngân sách Trung ương và tỉnh giải ngân đạt 50.930 triệu đồng (60,33%), ngân sách huyện giải ngân đạt 122.170 triệu đồng (74,83%).
- Tiềm năng tài nguyên văn hóa nhân văn: Huyện có 76 di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng (1 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 14 di tích cấp quốc gia, 61 di tích cấp tỉnh), cùng 13 di tích chưa xếp hạng và 2 di tích chưa đề nghị xếp hạng. Di sản tư liệu "Mộc bản trường học Phúc Giang" được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Di tích lịch sử - cách mạng: Ngã ba Đồng Lộc ghi dấu chiến công của các lực lượng và sự hy sinh của 10 nữ liệt sĩ Thanh niên xung phong (Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55). Trong giai đoạn 1964 - 1972, cao điểm từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, nơi đây phải chịu gần 50.000 quả bom, bình quân mỗi 1m² đất chịu trên 3 quả bom. Các hạng mục chính gồm: Khu mộ 10 nữ liệt sĩ (dưới chân núi Trọ Voi, cách nhà bia 30m), Nhà bia tưởng niệm thanh niên xung phong toàn quốc (xây dựng năm 1998, tu bổ năm 2007, khắc tên gần 4.000 liệt sĩ), Tượng đài chiến thắng, Cột biểu tượng ngành Giao thông vận tải (khánh thành 26/3/1992 bằng đá hoa cương), Tháp chuông Đồng Lộc (khánh thành 2/1/2011, cao 37m, 7 tầng 8 mái, chuông nặng 5,7 tấn), Phòng trưng bày truyền thống (sa bàn điện tử, hiện vật của liệt sĩ Võ Thị Tần, sổ hát chị Hường, áo chị Xuân). Bến đò Thượng Trụ (xã Thiên Lộc) gắn với di tích Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập tháng 11/1929 và cuộc họp cải tổ Đảng Tân Việt tháng 12/1929. Cụm di tích Ngã ba Nghèn và Làng văn hóa K130 ghi dấu ấn phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh và cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Lễ hội truyền thống: Lễ hội chùa Hương Tích (xã Thiên Lộc, trên động Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh ở độ cao 550m, tích công chúa Diệu Thiện, hội chính ngày 18/2 âm lịch; hệ thống cáp treo dài gần 1km đưa vào vận hành từ năm 2010); Lễ hội chùa Chân Tiên (xã Thịnh Lộc, núi Tiên Am, hội ngày 3/3 âm lịch với phần tế lễ và các trò chơi dân gian như đua thuyền Bàu Tiên, kéo co, vật cổ truyền, đánh cờ thẻ; nơi từng in ấn truyền đơn bí mật thời kỳ 1930 - 1931 cất giấu trong tượng Phật và khe đá 12 cửa).
- Hệ thống đình, đền: Đền Tam Lang (xây dựng thời Trần, niên hiệu Kiến Tân 1398 - 1400, thờ thần Rắn Tam Lang, công nhận di tích cấp tỉnh năm 2006); Đền thờ Đặng Tất - Đặng Dung (xã Tùng Lộc, diện tích 3.320m², hướng ra sông Yến, kiến trúc chữ Nhị, được Lê Lợi phong "Tiết nghĩa công thần" năm 1428); Đền thờ Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (xã Trường Lưu, núi Phượng Lĩnh, đỗ Đình nguyên Thám hoa năm 1748, lập Phúc Giang thư viện, tác giả Hoàng hoa sứ trình đồ, Quốc sử toản yếu); Đền thờ Nguyễn Huy Tự (diện tích 2.000m², kiến trúc chữ Nhị, bức biểu "Võ khố Hùng lược").
- Làn điệu dân ca: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (thực hành qua các lối hát gắn với lao động như Ví phường vải, Ví phường nón, Giặm kể, Giặm ru...) và Hát phường vải Trường Lưu (cấu trúc 3 chặng: hát dạo; hát đố, hát đối; hát mời, hát xe duyên và hát tiễn).
- Thực trạng hoạt động và quản lý du lịch:
- Năm 2019: Chùa Hương Tích đón 32 vạn lượt khách, Ngã ba Đồng Lộc đón hơn 50 vạn lượt; thu phí và tiền công đức đạt gần 30 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ du lịch toàn huyện ước đạt trên 100 tỷ đồng.
- Năm 2020: Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc đón 800 nghìn lượt khách.
- Năm 2021: Chùa Hương Tích đón 14 vạn lượt khách, Ngã ba Đồng Lộc đón hơn 26 vạn lượt; thu phí và công đức đạt gần 14 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ ước đạt trên 55 tỷ đồng.
- Các dự án đầu tư: Dự án ADB giai đoạn 1 đầu tư 120 - 130 tỷ đồng tại chùa Hương Tích (chuẩn bị triển khai giai đoạn 2 khoảng 20 tỷ đồng); Tập đoàn An Viên và Vingroup trùng tu nền Trang Vương trên 50 tỷ đồng; công trình Đền thờ và Hồ sinh thái Ngã ba Đồng Lộc với tổng dự toán 43 tỷ đồng từ nguồn vốn xã hội hóa; quy hoạch Khu du lịch sinh thái Cửa Thờ - Trại Tiểu (xã Mỹ Lộc).
- Tồn tại, hạn chế: Thiếu cơ sở dịch vụ lưu trú, nghỉ dưỡng và khu vui chơi giải trí khiến thời gian lưu trú ngắn; hoạt động du lịch chịu tính thời vụ cao; một số lễ hội vẫn còn hiện tượng đốt vàng mã, xin xăm, xóc thẻ, xả rác và bán hàng chèo kéo; lực lượng nghệ nhân dân ca tuổi cao, nguồn kinh phí truyền dạy hạn hẹp; cán bộ văn hóa phụ trách di tích tại cấp xã và huyện phần lớn là kiêm nhiệm.
Chương III: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nhân văn trong phát triển du lịch tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và phương hướng cụ thể nhằm tháo gỡ các bất cập:
- Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và quảng bá: Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa cho thế hệ trẻ thông qua nền nếp gia đình, dòng họ, trường học và các phong trào của Huyện đoàn Can Lộc; phát hành tập gấp quảng bá hình ảnh đặc trưng, xuất bản các ấn phẩm chuyên khảo tin cậy và xây dựng tài liệu giới thiệu song ngữ phục vụ khách quốc tế.
- Nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cán bộ quản lý: Đào tạo, đào tạo lại và trẻ hóa đội ngũ nhân lực tại các ban quản lý di tích; bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch và kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ văn hóa cấp xã.
- Cơ chế chính sách và bảo vệ môi trường: Đổi mới cơ chế theo hướng Nhà nước quản lý di tích, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và kinh doanh dịch vụ du lịch; tăng cường công tác vệ sinh, lắp đặt thùng rác, biển báo chỉ dẫn và có cơ chế xử lý chất thải tại các điểm tham quan.
- Giải pháp quy hoạch và định hướng không gian du lịch: Gắn kết quy hoạch du lịch với phát triển đô thị Đồng Lộc (hướng tới Đô thị loại V), kết hợp khai thác mô hình du lịch sinh thái - trang trại vùng Trà Sơn và các làng nghề truyền thống.
- Phương hướng xây dựng tuyến du lịch chuyên đề:
- Tuyến tham quan di tích lịch sử cách mạng: Trọng tâm là Ngã ba Đồng Lộc, kết nối Cụm di tích Ngã ba Nghèn, Làng văn hóa K130 và Bến đò Thượng Trụ.
- Tuyến du lịch tâm linh - lễ hội: Trọng tâm là chùa Hương Tích, kết nối cụm chùa Diệu Linh, chùa Thanh Quang và chùa Chân Tiên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa hiện trạng di sản văn hóa và hoạt động du lịch tại huyện Can Lộc thông qua các số liệu thực tế được ghi nhận:
| Tiêu chí thống kê |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
| Tổng số di tích lịch sử - văn hóa đã xếp hạng |
76 di tích |
| - Di tích cấp Quốc gia đặc biệt |
01 di tích (Ngã ba Đồng Lộc) |
| - Di tích cấp Quốc gia |
14 di tích |
| - Di tích cấp Tỉnh |
61 di tích |
| Di tích chưa xếp hạng / Chưa đề nghị xếp hạng |
13 di tích chưa xếp hạng, 02 di tích chưa đề nghị |
| Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương |
01 di sản (Mộc bản trường học Phúc Giang) |
| Đề tài khoa học nghiên cứu về di sản Can Lộc |
06 đề tài |
Bên cạnh việc thống kê tài nguyên, khóa luận đã lượng hóa kết quả hoạt động du lịch của địa phương qua các giai đoạn:
| Năm |
Lượng khách Chùa Hương Tích |
Lượng khách Ngã ba Đồng Lộc |
Thu phí & công đức (2 khu du lịch) |
Doanh thu dịch vụ du lịch toàn huyện |
| 2019 |
32 vạn lượt (hoặc >16 vạn lượt) |
Hơn 50 vạn lượt |
Gần 30 tỷ đồng |
Ước đạt trên 100 tỷ đồng |
| 2020 |
— |
800 nghìn lượt |
— |
— |
| 2021 |
14 vạn lượt |
Hơn 26 vạn lượt |
Gần 14 tỷ đồng |
Ước đạt trên 55 tỷ đồng |
Về đóng góp thực tiễn, khóa luận đề xuất giải pháp đổi mới phương thức quản lý di tích (tách bạch giữa quản lý nhà nước về di sản và xã hội hóa đầu tư dịch vụ), đồng thời vạch ra 2 tuyến du lịch chuyên đề cụ thể (tuyến di tích lịch sử cách mạng và tuyến du lịch tâm linh - lễ hội) nhằm đa dạng hóa sản phẩm và khắc phục tình trạng phát triển manh mún. Về mặt học thuật, công trình cung cấp một bức tranh toàn diện, có hệ thống về tiềm năng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của huyện Can Lộc phục vụ công tác nghiên cứu quản lý văn hóa địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu tập trung khảo sát chuyên sâu tại hai điểm du lịch trọng điểm là Chùa Hương Tích và Ngã ba Đồng Lộc, các di tích phân tán ở các xã nông nghiệp chưa được đánh giá chi tiết về chỉ số khai thác kinh tế.
- Số liệu hoạt động du lịch năm 2020 - 2021 bị chi phối bởi bối cảnh dịch bệnh COVID-19, dẫn đến sự sụt giảm tạm thời của các chỉ tiêu doanh thu và lượng khách so với giai đoạn thông thường.
- Phương pháp thu thập dữ liệu về sự hài lòng của du khách chủ yếu dừng lại ở các cuộc phỏng vấn định tính cá nhân, chưa xây dựng được tập mẫu khảo sát định lượng quy mô lớn với các thang đo thống kê chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá mô hình liên kết phát triển du lịch văn hóa liên huyện giữa Can Lộc với các địa phương lân cận như Nghi Xuân (quê hương Nguyễn Du), Lộc Hà và thị xã Hồng Lĩnh.
- Nghiên cứu các giải pháp ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong quản lý, bảo tồn di sản tư liệu (Mộc bản Phúc Giang) và xây dựng bảo tàng số cho các di tích cách mạng.
Giá trị tham khảo
Công trình khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên thuộc các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Du lịch học, Việt Nam học và Văn hóa học khi tiếp cận đề tài về bảo tồn di sản gắn với kinh tế du lịch tại địa bàn cấp huyện.
- Cán bộ quản lý văn hóa - thông tin cấp huyện, công chức văn hóa - xã hội cấp xã và các Ban Quản lý di tích trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong việc xây dựng phương án bảo tồn di tích và định hướng tổ chức tour tuyến.
- Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Hệ thống danh mục và đặc điểm kiến trúc của 76 di tích trên địa bàn huyện Can Lộc; tư liệu miêu tả cấu trúc 3 chặng của Hát phường vải Trường Lưu; các số liệu tổng hợp về kinh phí đầu tư hạ tầng và dự án ADB tại chùa Hương Tích.
Câu hỏi thường gặp
1. Huyện Can Lộc sở hữu bao nhiêu di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng và di tích nào giữ vị thế quan trọng nhất?
Huyện Can Lộc có 76 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng, bao gồm 1 di tích cấp Quốc gia đặc biệt (Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc), 14 di tích cấp Quốc gia và 61 di tích cấp Tỉnh. Ngoài ra, địa phương có di sản Mộc bản trường học Phúc Giang được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
2. Quy mô đầu tư và các dự án hạ tầng lớn tại Khu du lịch Chùa Hương Tích gồm những hạng mục nào?
Chùa Hương Tích đã huy động trên 300 tỷ đồng đầu tư, trong đó: Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch hỗ trợ cho tăng trưởng toàn diện tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (nguồn vốn ADB) hoàn thành giai đoạn 1 với 120 - 130 tỷ đồng và chuẩn bị triển khai giai đoạn 2 khoảng 20 tỷ đồng; Tập đoàn An Viên và Tập đoàn Vingroup đầu tư trùng tu tôn tạo nền Trang Vương trên 50 tỷ đồng; hệ thống cáp treo dài gần 1km đạt tiêu chuẩn quốc tế đưa vào vận hành từ năm 2010.
3. Nghệ thuật Hát phường vải Trường Lưu có quy trình diễn xướng đặc trưng như thế nào?
Hát phường vải Trường Lưu có cấu trúc ổn định gồm 3 chặng: Chặng 1 là hát dạo; Chặng 2 là hát đố, hát đối; Chặng 3 là hát mời, hát xe duyên và hát tiễn. Không gian diễn xướng diễn ra từ chập tối đến nửa đêm, nữ giới vừa quay xe kéo vải vừa hát trong nhà, nam giới đứng hát ngoài ngõ hoặc sân với nội dung giao duyên, đối đáp.
4. Khóa luận chỉ ra những rào cản chính nào khiến du lịch Can Lộc chưa giữ chân được du khách?
Các rào cản chính gồm: Thiếu hạ tầng dịch vụ lưu trú, ăn uống, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí; kinh doanh du lịch còn mang tính "ăn xổi" và phụ thuộc vào tính thời vụ của lễ hội; đội ngũ cán bộ văn hóa cấp cơ sở chủ yếu là kiêm nhiệm; hoạt động mê tín dị đoan, xóc thẻ, bán hàng rong và rác thải vẫn còn xuất hiện cục bộ tại một số lễ hội.
5. Hai tuyến du lịch chuyên đề được tác giả đề xuất tại Can Lộc kết nối các điểm đến nào?
Hai tuyến du lịch chuyên đề bao gồm:
- Tuyến 1 (Di tích lịch sử cách mạng): Ngã ba Đồng Lộc kết nối Cụm di tích Ngã ba Nghèn, Làng văn hóa K130 và Bến đò Thượng Trụ.
- Tuyến 2 (Tâm linh - Lễ hội): Chùa Hương Tích kết nối Chùa Diệu Linh, Chùa Thanh Quang và Chùa Chân Tiên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hải Yến đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phản ánh chi tiết hiện trạng bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bằng việc phân tích cụ thể 76 di tích xếp hạng, các lễ hội tiêu biểu cùng số liệu lượng khách và nguồn thu giai đoạn 2019 - 2021, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng lưu trú và nguồn nhân lực. Hệ thống giải pháp được đề xuất về phân cấp quản lý, bảo vệ cảnh quan môi trường và xây dựng 2 tuyến du lịch trọng điểm có giá trị thiết thực đối với công tác quản lý văn hóa và phát triển kinh tế du lịch bền vững tại địa phương.