phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn chia làm 3 chương: hương 1: ơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa hương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) hương 3: Các giải pháp phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử 11 z ƢƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊ VĂ Ó 1. Những căn cứ xác định khu vực Tây Yên Tử 1. Vị trí địa lý và lịch sử Núi Yên Tử nằm trên cánh cung ông Triều, ôm gọn vùng ông Bắc. Sườn ông Yên Tử chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh, sườn Tây Yên Tử thuộc các huyện Yến Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn ộng tỉnh Bắc Giang.
Từ xa xưa, Yên Tử đã được các nhà địa lý cổ phương ông ghi nhận là một trong những nơi phúc địa của Giao Châu. Nơi tích tụ khí thiêng sông núi, nơi trời đất giao hòa, giúp con người thoát tục để đến với một không gian thanh tịnh. Yên Tử còn được biết đến là một trong những trung tâm Phật giáo hàng đầu của cả nước, gắn liền với vai trò của đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền nổi tiếng của quốc gia ại Việt. Ngày này, Yên Tử là một quần thể di tích với nhiều kiến trúc cổ có giá trị lịch sử văn hóa, được xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau Lý, Trần, Lê, Nguyễn.
Về địa lý, Yên Tử là dãy núi thấp, thuộc hệ thống cánh cung ông Triều, một vùng địa chất được hình thành từ kỷ ệ tứ, với các loại đá gốc như sa thạch, sỏi kết sạn và phù sa cổ… Cánh cung ông Triều chạy từ Quảng Ninh qua ải Dương và Bắc Giang, án ngữ bên bờ tả sông Lục Nam. ộ cao, thế núi của từng ngọn cũng rất phong phú. Ở sơn phận này có các mạch núi chính như: Lôi Âm (tức Yên Tử), Phật Sơn, Am Ni, Chúng Sơn, Thanh Mai, Bác Mã, Côn Sơn, uyền inh, Tượng Sơn, Khám Lạng… ỉnh cao nhất của dãy Yên Tử là ngọn Lôi Âm (khoảng 1200m so với mực nước biển). Tiếp theo là ngọn Phú Lâm của núi Phật Sơn (khoảng 1000m).
Trong các mạch núi này có hai loại thảm thực vật nguyên sinh là thảm thực vật rừng nhiều tầng và thảm thực vật rừng xavan khô hạn. ịa hình, địa chất phức tạp của khu vực đã kiến tạo nên các cảnh quan kỳ vĩ như: thác Ngự Dội, thác Vàng, thác Bạc, cổng Trời, đường Tùng, rừng trúc, đỉnh núi Yên Tử… 12 z Khu vực Yên Tử có tổng diện tích tự nhiên khoảng 2686ha. Trong đó có 1736ha rừng tự nhiên, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ông Bắc, nơi còn bảo tồn được nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm. Xen kẽ với thiên nhiên là hệ thống chùa, am, tháp… Ven lối dẫn lên các chùa, am, tháp thường trồng rất nhiều tùng.
Trong khu vực này hiện còn khoảng hơn 200 cây tùng đại thụ, thuộc 4 nhóm quý hiếm, được trồng cách đây khoảng 700 năm. Ngoài đường tùng cổ thụ, rừng trúc ở đây cũng đã nổi tiếng từ ngàn xưa. Trúc là sản phẩm độc đáo của Yên Tử, tượng trưng cho sức sống dẻo dai, vẻ đẹp thanh bạch và tao nhã của tạo hóa. Có lẽ, đó cũng chính là lý do mà Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để tu hành, lấy tên là rừng trúc (Trúc Lâm), để đặt tên cho dòng thiền do ông sáng lập.
Trong vẻ đẹp hùng vĩ và hoang sơ, núi rừng gắn với cõi Thiền xưa, nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nơi đây còn in đậm dấu tích lịch sử và di tích văn hóa gắn với sự ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm và hệ thống lăng mộ các vua Trần. Từ khi hình thành, trải qua nhiều năm tháng, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ngày càng thu hút được nhiều phật tử, có lúc lên tới 1.500 người, nên việc xây dựng những chùa, miếu, am, thiền viện để phục vụ sinh hoạt tôn giáo được xây cất ở nhiều nơi. Tuy nhiên do thời gian xây dựng cách đây quá lâu (thế kỷ XIII và XIV) lại thêm thiên nhiên khắc nghiệt, nên những di sản này chỉ còn lại dấu tích.
Mặc dù vậy, nó đã minh chứng cho sự hiện hữu của một chốn Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. iện nay, hệ thống chùa, miếu, am, thiền viện phân bố ở không gian Yên Tử: Tỉnh Quảng Ninh: Chùa ồng trên đỉnh cao nhất Yên Tử, chùa Bảo Sái, chùa Một Mái, chùa Tiêu, chùa Hoa Yên, Ngự Dược am, Tử Tiêu am, Thạch Thất Ngộ Ngữ viện, chùa Long ộng, chùa iải Oan, chùa Lân, chùa Tú Lâm, chùa Quan Âm, chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngũ ài Sơn, Chùa Bắc Mã. 13 z Tỉnh Bắc Giang: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa ồ Bấc, chùa Bình Long, chùa Cao, chùa Hang Non, chùa Hòn Tháp, chùa Yên Mã, chùa AmVãi, chùa ồng Vành, chùa hỉ Tác. Tỉnh ải Dƣơng: ền, chùa Côn Sơn – Kiếp Bạc, chùa Thanh Mai, chùa Thời Lời, Ngũ ài, á Bạc, chùa Dạo, chùa Kỳ Lân,.
Có thể thấy Tây Yên Tử (Bắc Giang) là một phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. Trong đó Bắc Giang, Quảng Ninh, ải Dương còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quan trọng và độc đáo của Thiền Phái Trúc Lâm minh chứng những giá trị văn hóa tinh thần từng ngự trị ở nơi đây. Theo tài liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, vùng Tây Yên Tử trải dài qua 4 huyện: Yên Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn ộng. Trừ huyện Yên Dũng là vùng trung du, 3 huyện còn lại đều là các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang.
Các huyện này nằm ở phía ông của tỉnh, có các tuyến giao thông là quốc lộ 1A, quốc lộ 31, quốc lộ 279… chạy qua. ịa bàn 4 huyện này tiếp giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Tuy là địa bàn miền núi, song Tây Yên Tử nằm trong vùng có điều kiện khá thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các huyện trong tỉnh, các tỉnh lân cận như: Hà Nội, Quảng Ninh, Lạng Sơn, giao lưu với Trung Quốc qua cửa khẩu của các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn. ây là vùng có 13 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Dao, Sán Chí.
ồng bào các dân tộc trong vùng đa số vẫn còn giữ được nhiều nét sinh hoạt truyền thống trong đời sống văn hóa, tập quán sản xuất… tạo nên sự đa dạng và phong phú. Bên cạnh đó, khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử với hàng nghìn loài động thực vật quý hiếm được quy hoạch diện tích rộng, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp. Khá gần với Hà Nội, ải Phòng, khu di tích Yên Tử tỉnh Quảng Ninh, có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa, tâm linh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. 14 z Trong vùng có khá nhiều con sông chảy qua, nhất là huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Yên Dũng.
Với 3 con sông lớn là: sông Thương, sông ầu và sông Lục Nam, chiều dài chừng 130km, các con sông này có lượng nước dồi dào quanh năm, không chỉ cung cấp nước tưới cho nông nghiệp mà còn phục vụ việc đi lại, đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa, thông thương hàng hóa, phát triển du lịch từ xưa đến nay và mai sau. ệ thống đê bao của các con sông này khá vững chắc đã ngăn được những ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống dân sinh và sản xuất. Rừng trong khu vực chiếm khoảng trên 60% diện tích. Trong đó chủ yếu diện tích rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và một phần là rừng trồng kinh tế.
Thảm thực vật rừng ở đây vẫn còn có độ che phủ lớn, chủ yếu là các loại cây bản địa và các loại gỗ quý như: lim, lát, pơmu, dẻ… ệ thống di tích Tây Yên Tử cơ bản được xây dựng dưới thời Lý – Trần. Thời kỳ đầu, các nhà tu hành thường áp dụng phương pháp thiền định khổ hạnh, tìm những nơi núi cao, cảnh đẹp mà hoang vắng để lập am, dựng chùa tu hành. Ngoài ra còn có những di sản văn hóa phi vật thể khác liên quan như: lễ hội, truyền thuyết, phong tục tập quán, tri thức dân gian, thi ca và di sản Hán – Nôm khác… Khu vực Tây Yên Tử tập trung khá đa dạng các di tích văn hóa. Chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) là thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, chốn đào luyện tăng đồ Phật giáo, do Trần Nhân Tông tạo dựng, là nơi khởi đầu của hành trình Tây Yên Tử.
Chùa Hòn Tháp (xã ẩm Lý, huyện Lục Nam) xây dựng từ thời Trần TK XIII-XIV, chùa trong núi, kề khe suối hạ nguồn Vực Rêu, có thác nước. Trên đường đi Yên Tử, đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã từng cư ngụ tại đây. Chùa Yên Mã (xã ẩm Lý, huyện Lục Nam) do Pháp Loa thiền sư và các tăng ni tạo dựng. Chùa Non, chùa Cao, đền Thượng, đền Trung, đền ạ (xã Khám Lạng, huyện Lục Nam) có từ thời Trần, nằm trên núi Khám Lạng, gắn liền với nhiều tích lạ có liên quan đến Phật giáo 15 z theo lối tu hành khổ hạnh (dấu chân Phật).
Chùa Bình Long (xã uyền Sơn, huyện Lục Nam) gồm núi uyền inh, núi Hòn Chùa có từ thời Lý, Trần. iện chỉ là phế tích với một số di vật đá, chữ khắc trên vách đá. Thắng cảnh suối Mỡ, hồ Bấc (xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam) là thắng cảnh suối, thác, gắn với hệ thống đền, chùa. Thắng cảnh suối nước Vàng (xã Lục Sơn, huyện Lục Nam) là thắng cảnh gắn với chùa ồng Vàng, nơi sinh sống của dân tộc Dao, Thanh Phán.
Chùa Am Vãi (xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn) xây dựng thời Lý, Trần. iện nay, cảnh quan di tích đang được đầu tư, tôn tạo. Khu ồng Thông (xã Thanh Sơn, Sơn ộng) là nơi sinh hoạt văn hóa của dân tộc Dao… 1. Những căn cứ pháp lý Trong giai đoạn đầu xây dựng các định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản khu vực Tây Yên Tử gắn với phát triển du lịch văn hóa, vai trò của Nhà nước có một vị trí quan trọng.
Với ý nghĩa này, từ những ý tưởng của các nhà khoa học, nhà quản lý tỉnh Bắc Giang đã đề xuất với Chính Phủ về những giá trị di sản ở khu vực Bắc Giang liên quan đến các giá trị di sản văn hóa ở vùng Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh.