Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Địa lí học với đề tài "Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận" được nghiên cứu sinh Nguyễn Phú Thắng thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Sơn và TS. Trương Văn Tuấn, bảo vệ năm 2019 (Mã số chuyên ngành: 62 31 05 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Du lịch là ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và nhận được sự định hướng trực tiếp từ các cấp lãnh đạo thông qua Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về "Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn" và Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08. Trong thực tiễn phát triển du lịch, liên kết vùng là xu thế phổ biến nhằm khai thác lợi thế so sánh về tài nguyên, vị trí, hạ tầng, khắc phục sự phát triển manh mún, hạn chế tính trùng lặp sản phẩm tại các địa phương có sự tương đồng tài nguyên.
Tỉnh An Giang nằm ở phía Tây Nam vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), sở hữu nhiều tiềm năng tự nhiên và nhân văn. Năm 2017, toàn tỉnh đón 7,3 triệu lượt khách du lịch (dẫn đầu vùng ĐBSCL về tổng lượt khách), tổng doanh thu đạt 3.700 tỉ đồng, đóng góp hơn 5,0% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Nhiều địa điểm du lịch tạo được sức hút lớn như Khu du lịch Núi Sam, rừng tràm Trà Sư... Tuy vậy, hoạt động du lịch của An Giang vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chưa khai thác hết thế mạnh sẵn có và tính liên kết du lịch với các địa bàn phụ cận chưa đạt hiệu quả mong muốn.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình đã công bố về du lịch An Giang trước thời điểm thực hiện luận án chủ yếu tập trung khảo sát tiềm năng, thực trạng hoạt động đơn lẻ hoặc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù nội tỉnh. Vấn đề phát triển du lịch tỉnh An Giang đặt trong mối quan hệ không gian, liên kết hữu cơ với các địa phương phụ cận theo cách tiếp cận Địa lí học một cách có hệ thống, đồng bộ bằng các công cụ định tính kết hợp định lượng vẫn chưa được giải quyết đầy đủ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và phát triển du lịch trong liên kết vùng để phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận; từ đó đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh trong mối liên kết vùng đạt hiệu quả cao về kinh tế - xã hội và môi trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:
- Tổng quan một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và phát triển du lịch trong liên kết vùng để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu.
- Xác định các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch (theo ngành và theo lãnh thổ) trong liên kết vùng phụ cận áp dụng vào địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận.
- Phân tích thực trạng phát triển du lịch và phát triển du lịch trong liên kết với vùng phụ cận của tỉnh An Giang dưới góc độ Địa lí học.
- Đề xuất định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang trong mối liên kết với vùng phụ cận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch tỉnh An Giang trong mối liên kết với vùng phụ cận.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến liên kết du lịch (Tài nguyên du lịch; Cơ chế chính sách phát triển du lịch trong liên kết vùng, cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ; Vị trí, khoảng cách địa lí và các yếu tố bổ trợ); thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang theo ngành (khách du lịch, doanh thu, lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật) và theo lãnh thổ (tập trung đánh giá hình thức điểm du lịch); đánh giá hai nội dung liên kết trọng tâm giữa An Giang và vùng phụ cận gồm: liên kết trong khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch, và liên kết trong xây dựng tuyến, tour, chương trình du lịch.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng chuỗi số liệu từ năm 2007 đến năm 2017; đề xuất định hướng và dự báo nhu cầu đến năm 2030.
- Phạm vi không gian: Tỉnh An Giang và vùng phụ cận (VPC) gồm 3 tỉnh, thành phố: Kiên Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp. Ranh giới không gian này được luận giải dựa trên hai căn cứ: Thứ nhất, theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2030 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, An Giang và 3 địa phương trên thuộc không gian phát triển du lịch phía Tây vùng ĐBSCL; thứ hai, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh An Giang và quy hoạch các địa phương lân cận đều xác định Cần Thơ, Kiên Giang là các đầu mối kết nối du lịch trọng yếu và Đồng Tháp là vệ tinh du lịch sinh thái quan trọng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Lịch sử nghiên cứu du lịch trên thế giới được tác giả điểm lại từ các tài liệu ghi chép sớm vào thế kỉ XVI – XVII như "Hướng dẫn đường sá ở Pháp" (1552), "Cuộc du hành ở Pháp" (1589), và "Sách tra cứu về y học, lí học và lịch sử học về Lisbenstain" (1610) (dẫn theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2003).
Về vai trò kinh tế - xã hội và môi trường của du lịch, luận án trích dẫn các báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 2015, 2018) nhấn mạnh đóng góp 10% GDP toàn cầu, 1/10 việc làm, 30% xuất khẩu dịch vụ và là công cụ xóa đói giảm nghèo; các nghiên cứu của UNESCO (2006) về giao lưu văn hóa; Mason (2003) về bảo tồn giá trị văn hóa cộng đồng; William F. Theobald (1998) về các thách thức môi trường, xã hội của du lịch.
Về tài nguyên du lịch và sản phẩm, các công trình được điểm lại gồm: Denis Tolkach và Brian King (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên đến sản phẩm du lịch; Choon (2017) khảo sát tác động môi trường; Amelung B., Nicholls S., Viner D. (2007) phân tích tính mùa du lịch theo khí hậu; Salih Kusluvan và cộng sự (2010), Nikola Naumov (2016) nghiên cứu du lịch văn hóa; Cátia Jesus và Mário Franco (2016) nghiên cứu sự khác biệt phân bố tài nguyên dẫn đến nhu cầu hợp tác liên kết.
Về tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL), luận án ghi nhận đóng góp của N. Likhanov và các nhà địa lí Liên Xô; M. Buchovarop (1975) với sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch gồm 4 phân hệ tương tác; Pirojnik (1985) về mối quan hệ giữa phát triển du lịch và phân bố không gian (dẫn theo Nguyễn Minh Tuệ, 2010). Các học giả phương Tây như A. Mathieson và G. Wall (1982) đề cập đến sức chứa lãnh thổ; Leong Choon Chiang (1999) đề xuất giải pháp tổ chức tour liên kết với các vùng phụ cận để giảm tải sức chứa mùa cao điểm; Colin Michael Hall (2008) nghiên cứu các yếu tố không gian trong định hướng phát triển du lịch.
Về liên kết vùng du lịch, Stephen Williams (1998) trong tác phẩm "Tourism Geography" nhấn mạnh việc mở rộng không gian biến du lịch thành ngành kinh tế mở; Tove Oliver và Tim Jenkins (2003) phân tích vai trò liên kết với bảo tồn cảnh quan; E. Inskeep (1991) và Mathilda van Niekerk (2014) khảo sát liên kết gắn với mục tiêu bền vững; UNEP (2009), V. Sala (2010), Gordon Clark và Mary Chabrel (2007) làm rõ các khía cạnh liên kết địa lí, chính sách, quy hoạch và liên kết không gian theo chiều dọc, chiều ngang.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu về ngành du lịch và tác động kinh tế - xã hội có công trình của Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ (1998); Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (2010, 2017); Trần Đức Thanh (2017); Đỗ Quốc Thông (2004); Mai Thị Ánh Tuyết (2007); Nguyễn Duy Mậu (2012); Nguyễn Lan Anh (2014); Nguyễn Phương Nga (2016). Các nghiên cứu chuyên sâu về thị trường và loại hình du lịch được thực hiện bởi Nguyễn Văn Lưu (1998), Nguyễn Quỳnh Nga (2001), Trần Thị Minh Hòa (2006), Trần Thị Tuyết Mai (2005), Phạm Xuân Hậu và Trịnh Văn Anh (2012).
Về đánh giá tài nguyên du lịch, các nghiên cứu của Phạm Trung Lương (2000, 2002), Nguyễn Minh Tuệ (1992, 1993), Đặng Duy Lợi (1992), Lê Văn Tin (1999), Nguyễn Thị Sơn (2000), Phạm Xuân Hậu (2000), Trịnh Quang Hảo (2002) đã phân loại và định hướng khai thác tài nguyên tự nhiên, nhân văn, sinh thái. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá điểm du lịch được tiếp cận bởi Đặng Duy Lợi và Trần Văn Thắng (1994), Nguyễn Thế Chinh (1995), Hồ Công Dũng (1996), Nguyễn Hà Quỳnh Giao (2015), Nguyễn Phương Nga (2015).
Về tổ chức lãnh thổ du lịch, các công trình nền tảng gồm đề tài "TCLTDL Việt Nam" do Vũ Tuấn Cảnh làm chủ nhiệm (1999), giáo trình của Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ (1998), nghiên cứu của Trương Phước Minh (2003), Đào Ngọc Cảnh (2003), Nguyễn Văn Anh (2018). Vấn đề liên kết vùng trong du lịch bước đầu được phản ánh qua nghiên cứu của Nguyễn Duy Phương (2016), Nguyễn Thị Hồng Hải (2018) và hệ thống văn bản quy hoạch ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2013, 2017), Tổng cục Du lịch (2010, 2016).
Tại An Giang, hai công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp gồm luận án tiến sĩ của Mai Thị Ánh Tuyết (2007) về "Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020" và đề tài cấp tỉnh do Võ Văn Sen chủ trì (2018) về "Nghiên cứu phát triển các loại hình sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh An Giang".
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây tại An Giang chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí định lượng phù hợp để đánh giá và phân hạng mạng lưới điểm du lịch trên toàn tỉnh; chưa đo lường định lượng mức độ tác động của các nhóm nhân tố đến liên kết vùng; và chưa nghiên cứu sâu mô hình liên kết không gian tuyến, sản phẩm du lịch giữa An Giang và 3 địa phương phụ cận (Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp) dưới góc nhìn tổng hợp lãnh thổ của Địa lí học. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án căn cứ vào định nghĩa của Luật Du lịch năm 2017 để chuẩn hóa các khái niệm: du lịch, khách du lịch (nội địa, quốc tế đến Việt Nam, ra nước ngoài), tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa), chương trình du lịch, sản phẩm du lịch và thị trường du lịch. Khái niệm tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh được kế thừa từ Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa (2017), bao gồm ba cấp độ không gian: điểm du lịch (tiềm năng và thực tế), khu du lịch (cấp tỉnh, cấp quốc gia) và trung tâm du lịch.
Về lý thuyết liên kết vùng, tác giả vận dụng hai nền tảng kinh tế học không gian:
- Lý thuyết "Cực tăng trưởng" của Perroux (1955): Thiết lập cực tăng trưởng có sức hút và sức lan tỏa dòng vốn, hàng hóa, lao động sang các vùng xung quanh theo hiệu ứng "vết dầu loang".
- Lý thuyết liên kết kinh tế vùng của Albert O. Hirschman (1958): Sử dụng khái niệm liên kết ngược (backward linkages) và liên kết xuôi (forward linkages) thông qua phân tích quan hệ đầu vào - đầu ra giữa các ngành nhằm kích thích đầu tư mới và lan tỏa tăng trưởng.
- Quan niệm do tác giả luận án đề xuất: "Liên kết vùng du lịch là sự liên kết hợp tác, trao đổi giữa các địa phương, các vùng du lịch trong việc khai thác tài nguyên du lịch và các nguồn lực du lịch khác, tổ chức và quản lí các hoạt động du lịch đảm bảo lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường của các bên tham gia".
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án quán triệt 4 quan điểm nghiên cứu của Địa lí học: quan điểm hệ thống, quan điểm tổng hợp - lãnh thổ, quan điểm lịch sử - viễn cảnh và quan điểm phát triển bền vững. Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý các báo cáo thống kê, niên giám thống kê giai đoạn 2007 - 2017 của Cục Thống kê An Giang và các tỉnh vùng phụ cận, các quy hoạch và đề án phát triển ngành du lịch.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Triển khai theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 tìm hiểu khái quát địa bàn và lập hệ chỉ tiêu; Giai đoạn 2 thu thập thông tin định lượng và định tính tại các điểm, khu du lịch; Giai đoạn 3 thẩm định và cập nhật kết quả.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Chọn mẫu thuận tiện kết hợp yêu cầu mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA). Tổng quy mô mẫu là 300 phiếu, thực hiện trong năm 2017 qua các đợt tháng 4, 6, 10, 11 tại 7 điểm du lịch đại diện:
- Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (Khu du lịch Núi Sam)
- Rừng tràm Trà Sư
- Chùa Vạn Linh (Khu du lịch Núi Cấm)
- Khu di chỉ khảo cổ và nghệ thuật Óc Eo
- Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
- Thánh đường Cù Lao Giêng
- Làng Chăm Châu Phong
- Phương pháp chuyên gia và Phân tích thứ bậc (AHP - Analytic Hierarchy Process): Khảo sát ý kiến 8 chuyên gia là nhà quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp lữ hành tại An Giang để xác định trọng số cho 8 tiêu chí đánh giá điểm du lịch. Kết quả xử lý ma trận so sánh cặp cho chỉ số nhất quán CI = 0,05; với n = 8 yếu tố, chỉ số ngẫu nhiên RI = 1,41; tỉ số nhất quán CR = 0,05 / 1,41 = 0,039 (đạt yêu cầu vì CR ≤ 0,1).
- Phương pháp thang điểm tổng hợp: Áp dụng đánh giá 46 điểm du lịch đã được lựa chọn theo các tiêu chí quản lý và văn hóa tại An Giang. Điểm tổng hợp được chia 5 bậc và phân hạng theo công thức Arman (1975). Phỏng vấn sâu lãnh đạo Phòng Quản lí hoạt động du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang), 10 công ty lữ hành và 8 cơ sở khách sạn, nhà hàng.
- Phương pháp thống kê (EFA và MLRA): Lượng hóa ảnh hưởng của 4 nhóm nhân tố gồm 22 biến thành phần (X1 đến X22). Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha chung và từng nhóm đều > 0,6; hệ số KMO = 0,796 (thuộc khoảng 0,5 - 1,0); giá trị Eigenvalue = 1,314 ≥ 1, trích được 5 nhân tố; tổng phương sai trích đạt 63,871% ≥ 50%, thỏa mãn điều kiện tiến hành phân tích hồi quy đa biến (MLRA).
- Phương pháp Bản đồ và GIS: Ứng dụng phần mềm MapInfo 15 để biên tập và xuất bản hệ thống bản đồ hành chính, tài nguyên, hiện trạng và liên kết tuyến điểm du lịch giữa An Giang với vùng phụ cận.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Xác lập các ma trận kết hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SO, ST, WO, WT).
Hệ thống tiêu chí và trọng số đánh giá điểm du lịch
Hệ thống tiêu chí đánh giá điểm du lịch được tác giả thiết lập gồm 8 tiêu chí thành phần, mỗi tiêu chí chia thành 5 bậc (cho điểm từ 1 đến 5), sau đó nhân với trọng số AHP để xác định điểm tổng hợp:
| TT |
Tiêu chí đánh giá điểm du lịch |
Trọng số (AHP) |
| 1 |
Độ hấp dẫn |
0,24 |
| 2 |
Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kĩ thuật (CSHT - CSVCKT) |
0,20 |
| 3 |
Khả năng quản lí |
0,15 |
| 4 |
Môi trường (tự nhiên, văn hóa - xã hội, du lịch) |
0,13 |
| 5 |
Khả năng liên kết |
0,09 |
| 6 |
Vị trí và khả năng tiếp cận |
0,07 |
| 7 |
Sức chứa (khả năng đón khách) |
0,06 |
| 8 |
Thời gian hoạt động du lịch |
0,05 |
Thang phân hạng điểm du lịch theo công thức Arman (1975) được chuẩn hóa từ 1,0 đến 5,0 điểm với khoảng cách mỗi bậc là 0,8 điểm:
- Hạng I (Rất thuận lợi - 5 sao): 4,21 – 5,0 điểm
- Hạng II (Thuận lợi - 4 sao): 3,41 – 4,2 điểm
- Hạng III (Trung bình - 3 sao): 2,61 – 3,4 điểm
- Hạng IV (Ít thuận lợi - 2 sao): 1,81 – 2,6 điểm
- Hạng V (Kém thuận lợi - 1 sao): 1,0 – 1,8 điểm
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và phát triển du lịch trong liên kết vùng
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về kinh tế du lịch và địa lí du lịch, phân định rõ các tiêu chí tiếp cận theo ngành (khách du lịch, doanh thu du lịch, lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật) và theo lãnh thổ (điểm du lịch, khu du lịch, trung tâm du lịch).
Nội dung trọng tâm của chương là việc xây dựng hệ phương pháp lượng hóa đánh giá điểm du lịch cấp tỉnh: quy trình 5 bước áp dụng AHP xác định trọng số cho 8 tiêu chí thành phần, thiết lập bảng tiêu chí định lượng chi tiết cho từng loại hình tài nguyên tự nhiên và nhân văn, và quy chuẩn hóa việc phân loại điểm đến theo 5 thứ hạng. Bên cạnh đó, tác giả luận giải bản chất của liên kết vùng trong du lịch dựa trên các lý thuyết cực tăng trưởng và hiệu ứng liên kết ngược - xuôi, phân tích các hình thức liên kết nội vùng và liên vùng làm cơ sở thực chứng cho các chương sau.
Chương 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận
Chương này đi sâu phân tích tổng thể các nhân tố quy định sự phát triển du lịch An Giang và mối liên kết với ba địa phương vùng phụ cận gồm Kiên Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp:
- Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ: An Giang nằm ở đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu, giữ vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế với Campuchia qua các cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương; kết nối trực tiếp với trung tâm kinh tế vùng là Cần Thơ, địa bàn du lịch biển Kiên Giang và vùng sinh thái ngập nước Đồng Tháp.
- Tài nguyên du lịch: Luận án phân tích tài nguyên tự nhiên với thế mạnh vùng Bảy Núi (Thất Sơn), các cảnh quan đồi núi độc nhất vô nhị ở ĐBSCL xen giữa đồng bằng, rừng tràm Trà Sư; tài nguyên nhân văn nổi bật với hệ thống di tích văn hóa Óc Eo - Ba Thê, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, quần thể di tích lịch sử cách mạng Đồi Tức Dụp, cùng bản sắc văn hóa các cộng đồng dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer. Luận án thiết lập ma trận giá trị tài nguyên đặc sắc, phân định rõ nét khác biệt giữa An Giang và các tỉnh phụ cận (Kiên Giang mạnh về biển đảo, Cần Thơ mạnh về sông nước đô thị và chợ nổi, Đồng Tháp mạnh về sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười).
- Phân tích thống kê EFA và MLRA: Khảo sát 22 biến độc lập thuộc 4 nhóm nhân tố (CSHT và công nghệ; Chính sách; Tài nguyên du lịch; Yếu tố bổ trợ) trên mẫu 300 du khách. Mô hình trích xuất được 5 nhóm nhân tố có ý nghĩa thống kê tốt nhất, chứng minh tác động của cơ chế chính sách, chất lượng tài nguyên và hạ tầng giao thông kết nối đến khả năng liên kết phát triển du lịch giữa An Giang và vùng phụ cận.
Chương 3. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận
Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực trạng giai đoạn 2007 – 2017:
-
Phát triển du lịch theo ngành:
- Lượt khách: Khách du lịch đến An Giang tăng trưởng liên tục, từ mức đón nhận ban đầu tăng lên đạt 7,3 triệu lượt vào năm 2017, dẫn đầu vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, tỉ lệ khách lưu trú còn thấp và số ngày lưu trú bình quân ngắn (chủ yếu là khách đi trong ngày và khách hành hương tâm linh).
- Doanh thu du lịch: Năm 2017 đạt 3.700 tỉ đồng, đóng góp trên 5,0% GRDP của tỉnh; dù vậy tỉ trọng doanh thu trên lượt khách còn thấp so với Cần Thơ và Kiên Giang.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật và lưu trú: Hệ thống khách sạn, cơ sở lưu trú được nâng cấp nhưng công suất sử dụng phòng chưa đồng đều giữa các mùa; số lượng cơ sở lưu trú đạt chuẩn xếp hạng 3 - 5 sao còn hạn chế.
- Lao động du lịch: Tăng về số lượng nhưng lao động trực tiếp qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ du lịch còn thiếu; thái độ và kĩ năng của nhân viên phục vụ qua khảo sát xã hội học bộc lộ nhiều điểm hạn chế.
-
Phát triển du lịch theo lãnh thổ:
- Tác giả thực hiện tính điểm chi tiết (chưa trọng số và có trọng số AHP) cho 46 điểm du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang, phân chia thành 5 nhóm thứ hạng.
- Các điểm xếp Hạng I (rất thuận lợi) gồm: Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, Rừng tràm Trà Sư, Chùa Vạn Linh (Núi Cấm), Khu di chỉ khảo cổ Óc Eo... Đây là các hạt nhân chính tạo sức hút và có khả năng kết nối tuyến rộng rãi.
- Các điểm xếp Hạng II và Hạng III chiếm phần lớn số lượng (các đình, đền, chùa bản địa, làng nghề dệt thổ cẩm Chăm, làng bè ngã ba sông Châu Đốc).
- Điểm Hạng IV và V là những di tích có quy mô nhỏ, hạ tầng kết nối yếu và dịch vụ nghèo nàn.
-
Thực trạng liên kết du lịch với vùng phụ cận:
- Đánh giá liên kết sản phẩm và tài nguyên: Đã hình thành sự kết nối bước đầu giữa An Giang với Cần Thơ (trung tâm phân phối khách), Kiên Giang (kết nối tour Châu Đốc - Hà Tiên - Phú Quốc) và Đồng Tháp (tour sinh thái Trà Sư - Gáo Giồng - Tràm Chim).
- Đánh giá liên kết doanh nghiệp: Sự liên kết giữa các đơn vị lữ hành, khách sạn còn mang tính tự phát, thiếu các hợp đồng hợp tác dài hạn mang tính chiến lược; chưa hình thành chuỗi giá trị dịch vụ khép kín.
- Đánh giá chung: Mức độ liên kết PTDL giữa An Giang với vùng phụ cận còn ở mức trung bình, thiếu nhạc trưởng điều phối, hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (các tuyến quốc lộ, cầu vượt sông) còn nhiều điểm nghẽn.
Chương 4. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận
Nội dung chương trình bày định hướng không gian và chiến lược giải pháp đến năm 2030:
- Cơ sở khoa học: Căn cứ vào các chỉ tiêu chiến lược du lịch quốc gia, quy hoạch vùng ĐBSCL, quy hoạch tỉnh An Giang và kết quả phân tích ma trận SWOT (xác định 4 nhóm chiến lược phối hợp SO, ST, WO, WT).
- Dự báo nhu cầu phát triển: Dự báo lượng khách, nhu cầu buồng phòng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực du lịch trực tiếp, gián tiếp của tỉnh An Giang giai đoạn 2020 – 2030.
- Định hướng không gian và tuyến du lịch liên kết: Xác lập các không gian du lịch chuyên đề gắn với các tuyến du lịch liên vùng:
- Tuyến An Giang - Cần Thơ: Du lịch tâm linh, văn hóa sông nước, MICE.
- Tuyến An Giang - Kiên Giang: Kết nối du lịch đồi núi, di chỉ văn hóa Óc Eo với du lịch biên mậu Hà Tiên và nghỉ dưỡng biển đảo Phú Quốc.
- Tuyến An Giang - Đồng Tháp: Chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái ngập nước đặc thù mùa nước nổi.
- Hệ thống các giải pháp thực thi:
- Giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức quản trị liên kết: Thành lập Ban điều phối liên kết phát triển du lịch giữa An Giang và các tỉnh vùng phụ cận, xây dựng quỹ xúc tiến du lịch chung.
- Giải pháp về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật: Ưu tiên nâng cấp các trục giao thông đối ngoại kết nối An Giang với Cần Thơ (Quốc lộ 91), Kiên Giang (Quốc lộ 80, tuyến N1) và Đồng Tháp; thu hút đầu tư hệ thống lưu trú cao cấp từ 3 đến 5 sao.
- Giải pháp phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Khắc phục tình trạng trùng lặp, đẩy mạnh sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh Núi Sam, du lịch khảo cổ Óc Eo, sinh thái rừng tràm Trà Sư gắn với chuỗi sản phẩm đặc thù vùng Tây ĐBSCL.
- Giải pháp xúc tiến, quảng bá và xây dựng thương hiệu: Phối hợp tổ chức các tuần lễ du lịch chung, phát hành ấn phẩm và bản đồ số hóa tuyến du lịch liên kết.
- Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Liên kết giữa các cơ sở đào tạo tại Cần Thơ và An Giang, chuẩn hóa kĩ năng nghề du lịch và kĩ năng ngoại ngữ cho đội ngũ lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Kế thừa và hệ thống hóa khung lý luận về phát triển du lịch trong mối liên kết không gian vùng, làm rõ nội hàm của liên kết du lịch cấp tỉnh trong bối cảnh phân vùng du lịch ĐBSCL.
- Xác lập được hệ thống tiêu chí đánh giá điểm du lịch cấp tỉnh gồm 8 chỉ tiêu định lượng và định tính, áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP để xác định bộ trọng số khoa học, có thể tham chiếu cho các địa phương có