Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái miệt vườn Chương 2.Thực trạng phát triển du lịch sinh thái miệt vườn ở Bến Tre Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái miệt vườn ở Bến Tre NỘI DUNG 15 z CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI MIỆT VƢỜN 1.
Du lịch sinh thái (Ecotourism) Ngày nay, DLST đã và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên nhiên, nó xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và xã hội. Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Đối với một số người, du lịch sinh thái đơn giản chỉ là sự kết hợp ý nghĩa của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc.
Song đứng dưới góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên. Như vậy, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi, tham quan miệt vườn…đều được hiểu là DLST [4, tr. Du lịch sinh thái có thể còn được hiểu dưới những tên gọi khác nhau như: - Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism). - Du lịch dựa vào thiên nhiên ( Nature – Based Tourism).
- Du lịch môi trường (Environmental Tourism). - Du lịch đặc thù (Particular Tourism). - Du lịch xanh (Green Tourism). - Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism).
- Du lịch có trách nhiệm ( Responsible Tourism). - Du lịch nhạy cảm ( Sensitized Tourism). 16 z - Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism). - Du lịch bền vững ( Sustainable Tourism).TSKH Lê Huy Bá, DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời.
Vì đều “ dựa vào thiên nhiên” và “ có trách nhiệm” với môi trường mà có người quan niệm, DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Cũng có ý kiến cho rằng DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững. Như vậy, cho đến gần đây định nghĩa về du lịch sinh thái vẫn chưa thống nhất. Điều đó cũng khá phù hợp vì du lịch sinh thái chỉ là một hiện tượng mới xuất hiện gần đây và mỗi nhà nghiên cứu đều có định nghĩa khác nhau.
Từ định nghĩa về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos – Lascurain nêu vào năm 1987 thì: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [21, tr. Cùng với thời gian, định nghĩa về DLST được nhiều nhà nghiên cứ quan tâm đưa ra theo quan điểm, lập trường của mình. Vào những năm 90 của thế kỷ 20, khái niệm về DLST cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu nêu ra.Từ định nghĩa đầu tiên năm 1987 cho đến nay, nội dung của DLST đã có sự thay đổi: từ chỗ coi hoạt động DLST là loại hình ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn khác hơn. Theo cách nhìn mới, DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với bảo tồn, có tính giáo dục và nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương.
Ở Việt Nam, DLST mới nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20.Trong Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” (từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999). Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp 17 z cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái.
Đến với DLST, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. Nói tóm lại, DLST nói theo một định nghĩa nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần thiết như: sự quan tâm tới thiên nhiên, môi trường và trách nhiệm với xã hội, cộng đồng. Du lịch nông thôn Khái niệm du lịch nông thôn đã bắt đầu xuất hiện cùng với sự hình thành của ngành đường sắt ở châu Âu. Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và phổ biến ở hầu hết các quốc gia ở châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển.
Lúc bấy giờ, khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch ở nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn. Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến nay nhiều quốc gia đã ban hành đường lối, chính sách và cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho loại hình du lịch này phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách về thu nhập, phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hóa xã hội giữa thành thị và nông thôn. Ở mỗi quốc gia khác nhau, du lịch nông thôn lại có những tên gọi khác nhau như ở Anh là “Du lịch nông thôn”, ở Mỹ là “Du lịch trang trại”, ở Pháp là “Du lịch nông trại”, ở Hàn Quốc là “Du lịch nông nghiệp”,. [28] 18 z Trên thế giới có nhiều định nghĩa về du lịch nông thôn.
Theo Ramiro Lobo, chuyên gia cố vấn trang trại thì: “Du lịch nông thôn là hoạt động giải trí có liên quan đến việc tới thăm những nơi có khung cảnh làng quê hay môi trường nông thôn vì mục đích tham gia hoặc trải nghiệm các hoạt động, sự kiện hoặc các điểm thu hút mà không sẵn có ở các vùng đô thị hóa. Những hoạt động này không nhất thiết phải diễn ra ở vùng nông nghiệp tự nhiên”. Tác giả Malinda Geisler cho rằng: “Du lịch nông nghiệp nhìn chung được định nghĩa như là những hoạt động mà nó bao gồm việc thăm viếng nông trại canh tác hoặc bất cứ hoạt động nông nghiệp, làm vườn hay kinh doanh nông nghiệp nào nhằm được thưởng lãm, học hỏi và tham gia vào những điều đang diễn ra tại địa phương”.Một vài ví dụ về du lịch nông nghiệp: Các chuyến đi thăm nông trại dành cho gia đình và học sinh, các chuyến tham quan cảnh quan miệt vườn, làng quê trong ngày, gia chánh thực nghiệm, tự thu hoạch sản phẩm, cưỡi xe trượt tuyết hay chở cỏ khô, ở qua đêm trong nông trại với bữa sáng được phục vụ tại chỗ,.Một số người còn bị cuốn hút vào du lịch nông nghiệp như một cách làm tăng thêm nguồn thu nhập của họ. Những người khác lại muốn có cơ hội giáo dục cộng đồng và giới thiệu mọi người về hoạt động nông trại.
Ở Việt Nam loại hình du lịch nông thôn mới xuất hiện trong những năm gần đây, tuy nhiên khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý. Du lịch nông thôn có nhiều tên gọi khác nhau, như: “Du lịch trang trại”, “Du lịch nông trại”, “Du lịch nông nghiệp”, “Du lịch đồng quê”, “Du lịch miệt vườn”, “Du lịch sông nước”, “Du lịch làng bản”, “Du lịch làng nghề”, “Du lịch sinh thái”. Theo Ngô Kiều Oanh (2008) thì: “Du lịch nông thôn là bất kỳ hoạt động du lịch nào nhằm giới thiệu cuộc sống, văn hóa, nghệ thuật và các di sản của vùng quê, nhờ đó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương, đồng thời làm tăng sự tiếp xúc, giao lưu giữa khách du lịch với người dân bản địa thông qua các hoạt động du lịch đa dạng”. Du lịch nông thôn về cơ bản là các hoạt động diễn ra ở các làng quê.
Đây là hoạt động rộng lớn, có thể bao gồm cả du 19 z lịch nông nghiệp, di tích lịch sử, văn hóa, du lịch thiên nhiên, du lịch mạo hiểm và du lịch sinh thái. Tác giả Bùi Thị Lan Hương lại cho rằng: “Du lịch nông thôn là môt tập hợp thể loại du lịch, dựa trên sự khác biệt của tài nguyên thiên nhiên, nhân văn, sự kiện và sản vật của nông thôn để thu hút khách. Sản phẩm du lịch nông thôn Sự khác biệt của tài nguyên ở làng quê + Dịch vụ ở làng quê + Sản vật của làng quê”. Các thành phần này nếu không nằm trong một chu trình hoàn chỉnh sẽ dẫn đến chất lượng sản phẩm du lịch thấp, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng du lịch của khách.
Có thể nói rằng du lịch nông thôn không chỉ gói gọn trong một loại hình du lịch nhất định, nó có thể bao gồm nhiều loại hình du lịch trong một không gian lãnh thổ của một vùng nông thôn thuộc địa phương nào đó. Phát triển du lịch nông thôn là phát triển theo hướng mở rộng và khai thác các mối liên kết giữa các loại hình du lịch ở địa phương nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của tổ chức làm du lịch và lợi ích của cộng đồng địa phương, có sự tham gia của cộng đồng và quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương nhằm góp phần phát triển nông thôn của địa phương theo định hướng bền vững [12]. Như vậy, ta có thể thấy rằng, tuy đứng trên những hướng nghiên cứu khác nhau, nhưng định nghĩa về du lịch nông thôn của các học giả đều có điểm chung về không gian đó chính là vùng nông thôn gắn với hoạt động sản xuất của con người. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả đồng quan điểm với tác giả Bùi Thị Lan Hương.