CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH 1. Khái niệm du lịch Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội còn rất mới mẻ so với nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Ngày nay, du lịch được xác định là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính ien ngành, ien vùng và xã hội hóa cao.
Ngành khoa học về du lịch trên thế giới được hình thành vào đầu thế kỷ XX và đến nay vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này. Theo một số học giả du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được la tinh hóa thành “Turnur” và sau đó trở thành một từ trong tiếng Pháp “Tour” có nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi, còn “Touriste” là người đi dạo chơi. Theo Robert Langquar (1980), từ “Tourism” lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng thuật ngữ du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến một nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi tòan thế giới… Như vậy, nguồn gốc của thuật ngữ du lịch chưa có sự thống nhất, tuy nhiên điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nới khác và quay trở lại. Trong tiếng Việt, “Du lịch” là một từ Hán-Việt, trong đó “du” cũng có nghĩa tương tự như chữ “Tour” (du khảo, du ngoạn, du xuân…), “lịch” có nghĩa là sự từng trải.
Trong mấy thập kỷ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế (IUOTO – International of Union Official Travel Organization) tại Hà Lan năm 1925 đến nay, khái niệm du lịch vẫn luôn được tranh luận. Trước đó, vào năm 1811 khái niệm về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại Anh: Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí. Khái niệm này nhấn mạnh giải trí là yếu tố quyết định đến hoạt động du lịch. Năm 1930 ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa như sau: Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó có chỗ cư trú thường xuyên.
Theo hai học giả Hunziker và Krapf – hai người đặt nền móng cho lý thuyết về cung – cầu du lịch đưa ra đinh nghĩa như sau: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời. Khái niệm của hai ông đưa ra tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch. Song khái niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch.Pirojnic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức-văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”. Tháng 6 năm 1991, tại Otawa (Canađa), Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”.
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Tóm lại, khái niệm du lịch thể hiện mối quan hệ tác động tổng hợp của các yếu tố liên quan đến hoạt động du lịch. Trong điều kiện phát triển du lịch hiện nay, chúng ta có thể hiểu: “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức…và nhìn chung là vì những lý do không phải để kiếm tiền.” – Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO, 1994) 1. Tài nguyên du lịch 1.
Khái niệm Tài nguyên hiểu theo nghĩa chung nhất là tất cả các nguồn vật chất, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu trong đời sống và sản xuất của mình. Tài nguyên được phân thành tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên còn tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung.
Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Tài nguyên du lịch luôn được coi là tiền đề, là điều kiện đặc biệt quan trọng để phát triển của du lịch. Bản ang tài nguyên du lịch cũng có tính lịch sử và có xu hướng ngày càng mở rộng do nhu cầu phát triển du lịch. Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động ang tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.
Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Như vậy, có thể hiểu rằng: Tài nguyên du lịch là những yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo có khả năng khai thác và sử dụng để thoả mãn nhu cầu du lịch. Phân loại tài nguyên du lịch a. Tài nguyên du lịch tự nhiên - Địa hình : địa hình là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất.
Địa hình biểu hiện bằng các yếu tố như độ cao, độ dốc, trạng thái… Người ta thường chia tổng quát địa hình thành 3 dạng : miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển. Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có nhiều khả năng thu hút khách du lịch. Có rất nhiều loại hình du lịch ở miền núi : du lịch thám hiểm, du lịch văn hóa, săn bắn, leo núi và thể thao, du lịch mạo hiểm… Địa hình núi thường có rừng, thác nước và hang động… Vì vậy, miền núi có nhiều hướng phát triển du lịch. Tuy nhiên, hạn chế của du lịch ở miền núi là giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển… Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển : tắm biển, nghỉ biển, du thuyền ra đảo, lặn biển và các loại hình du lịch thể thao.
Ngoài ra, biển có nhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng. Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch. Tuy nhiên, đồng bằng thường là nơi dân cư trập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch. - Khí hậu : Khí hậu có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người.
Trước hết, trạng thái của cơ thể con người gắn liền với các chỉ số sinh khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ ẩm. Những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Ví dụ ở Việt Nam, Sa Pa và Đà Lạt là hai điểm du lịch rất nổi tiếng. Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch.
Thường thì mùa Hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới. Mùa Đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng ôn đới… Nhịp điệu mùa du lịch cũng có thể gián tiếp hình thành do mùa sinh hoạt của con người. Ví dụ, người Việt Nam có câu : “Tháng Giêng là tháng ăn chơi’’ - Nước : Nước có vai trò rất quan trọng đối với con người. Du lịch đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp nước cho du khách.
Nước còn là môi trường cho nhiều loại hình hoạt động du lịch : tắm, bơi lặn, du thuyền, lướt ván, câu cá, tham quan đáy biển…. Các hồ nước, thác nước, sông suối… cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với du lịch. Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghỉ dưỡng. Trên thế giới có nhiều điểm du lịch nổi tiếng về nước khoáng.
- Sinh vật : Tài nguyên sinh vật cũng có giá trị du lịch rất to lớn. Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động-thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch văn hóa, tham quan nghiên cứu… Các tài nguyên sinh vật còn có thể được tổ chức thành các điểm tham quan sinh vật hoang dã, bán hoang dã hoặc nhân tạo. Ví dụ các vườn thú, bảo tàng sinh vật, điểm nuôi các động vật hoang dã… Tài nguyên sinh vật còn phục vụ cho loại hình du lịch săn bắn, câu cá… + Các hiện tượng tự nhiên đặc biệt : Có nhiều hiện tượng thiên nhiên độc đáo và đặc sắc tạo nên sự thu hút du khách. Ví dụ hiện tượng nhật thực, tuyết rơi, đêm trắng Bắc cực… b.
Tài nguyên du lịch nhân văn - Di tích lịch sử - văn hoá. Di tích lịch sử văn hóa – đó là những gì mà quá khứ để lại.