chương 1 của Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 2005, khách du lịch được phân thành hai loại: Khách tham quan: là khách du lịch đến viếng thăm một nơi nào đó dưới 24h và không ở lại qua đêm, còn gọi là khách du ngoạn hay khách ở trong ngày. Du khách: là khách du lịch lưu trú tại một quốc gia hay một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24h và nghỉ lại qua đêm tại nơi đó với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, hội nghị, tôn giáo, công tác,… Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch nội địa : là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế : là người nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch ; là công dân Việt nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.4 Điểm du lịch Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.
Người HDKH: TS. Lê Long Hậu Học viên TH: Trịnh Minh Lý Luan van Trang 10 1.5 Khu du lịch Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.6 Các loại hình du lịch a. Du lịch sinh thái Ở Việt Nam trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ 7/9/1999 đến 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp tích cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân du khách thành những người đi tiên phong trong công tác bảo tồn môi trường.
Du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tạp quán còn hiện diện. Mục đích chính của du lịch văn hóa là nâng cao hiểu biết cho cá nhân về văn hóa thông qua các chuyến đi du lịch tìm hiểu lịch sử, kiến trúc, chế độ xã hội, phong tục tạp quán của điểm đến du lịch. Du lịch các di sản lịch sử văn hóa vật thể có các di chỉ khảo cổ và lịch sử, các đô thị lịch sử, các khu công trình mang tính lịch sử trong các đô thị, các địa bàn có những sự kiện lịch sử như các chiến khu cách mạng, các công trình kiến trúc có giá trị lịch sử như: lăng mộ, đình, chùa, những tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc như các bức tranh, các đồ mây, tre đan. Du lịch làng nghề Người HDKH: TS.
Lê Long Hậu Học viên TH: Trịnh Minh Lý Luan van Trang 11 Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du khách được thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó.7 Du lịch bền vững “Du lịch bền vững là quá trình điều hành quản lý các hoạt động du lịch với mục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn du khách tới các vùng và các quốc gia du lịch. Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt để đạt được lợi ích lâu dài do các hoạt động du lịch mang lại.2 Tầm quan trọng của du lịch 1.1Đối với kinh tế Việc phát triển du lịch sẽ làm tăng các cơ hội việc làm, cải thiện mức sống, hỗ trợ cơ sở hạ tầng, và tăng trưởng kinh tế cho một vùng, một quốc gia. Nền kinh tế quốc gia có du lịch phát triển sẽ có những thay đổi lớn trong cơ cấu sản xuất và nhất là quy hoạch môi trường phát triển. Có những ngành nghề nếu không có sự phát triển của du lịch sẽ bị mai một trong thế giới công nghiệp hóa kỹ thuật ngày nay như ngành thủ công mỹ nghệ.
Sự phát triển của du lịch sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân lao động (Phạm Hồng Long, 2012 ; Faulkner & Tideswell’s, 1997). Vào mùa du lịch chính một số lượng lớn lực lượng cần được sử dụng để phục vụ cho nhu cầu du lịch như hướng dẫn viên du lịch, những việc làm liên quan đến việc lưu trú của du khách như giặt ủi, ăn uống, dọn dẹp phòng…và kích thích các ngành khác phát triển như giao thông vận tải, sản xuất… Trong bài nghiên cứu của Liu & Var (1986), đã chỉ ra rằng phát triển du lịch không những đóng góp vào sự tăng trưởng vùng của địa phương đó mà còn tạo cơ hội việc làm cho người dân xung quanh. Cùng quan điểm này người dân vùng North Wales trong nghiên cứu của Sheldon & Var (1984), tin rằng du lịch mang đến cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp và kích thích sự chi tiêu cho kinh tế vùng, tạo cơ hội giải quyết việc làm. Người HDKH: TS.
Lê Long Hậu Học viên TH: Trịnh Minh Lý Luan van Trang 12 Bên cạnh đó việc phát triển du lịch cũng gây ra các tác động tiêu cực lên nền kinh tế. Nếu phát triển du lịch quốc tế thụ động quá tải dẫn đến việc làm mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế khi mà người cư trú trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài vì tiền bạc sẽ rời khỏi quốc gia, gây áp lực cho lạm phát. Hay khi du lịch được phát triển một cách ào ạt không có kế hoạch, các nhà cung ứng địa phương không có khả năng cung ứng số lượng hay chất lượng hàng hóa cần thiết mà phải nhập khẩu hàng hóa dẫn đến mất nguồn thu nhập và việc làm.2 Đối với môi trường tự nhiên Môi trường là cốt lõi và linh hồn của sản phẩm du lịch và mặc dù du lịch được coi là một “ngành công nghiệp sạch ” nhưng nó thường bị cho là có thiệt hại môi trường nghiêm trọng. Hầu như các tài liệu nói về các tác động về kinh tế và văn hóa xã hội của du lịch đều được hỗ trợ của dân địa phương, nhưng đại đa số các tác động của du lịch với môi trường là tiêu cực.
Cường độ hoạt động du lịch ở một vùng, một địa phương càng mạnh thì tác động môi trường càng lớn và dẫn đến sự xung đột giữa du lịch và môi trường. Các tác động tiêu cực của môi trường thường xuyên được nhắc đến trong các báo cáo như ô nhiễm môi trường, quá tải, gia tăng mức độ tắt nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn (Andereck,1995 ; Nuray Turker & Sevgi Ozturk, 2013; Perdue et al., 1990 ; Phạm Hồng Long, 2012). Trong khi đó, các tác động tích cực được đề cập trước đây chỉ liên quan đến vấn đề bảo tồn môi trường tự nhiên, góp phần tích cực vào bảo tồn các vườn quốc gia, các khu rừng văn hóa- lịch sử-môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử kiến trúc mỹ thuật. Ở Việt Nam hiện nay Nhà nước đã xác định và đưa vào bảo vệ cấp quốc gia 105 khu rừng đặc dụng (trong đó có 16 vườn quốc gia, 55 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng- văn hóa- lịch sử- môi trường) (Trần Văn Thông, Tổng quan du lịch, 2002,111).
Trong các nghiên cứu trước đây của Akis et al. 1996; Nunkoo and Ramkisson, 2010a đã chỉ ra rằng có từ 81% đến 92% người dân nhận thức được sự đóng góp tích cực từ việc du lịch mang lại, góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại các điểm du lịch cũng như là bảo tồn các kiến trúc lịch sử và các khu bảo tồn thiên nhiên. Người HDKH: TS. Lê Long Hậu Học viên TH: Trịnh Minh Lý Luan van Trang 13 Bên cạnh đó du lịch có ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện môi trường cho cả du khách và dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh, cung cấp nước, đường sá, thông tin, năng lượng, nhà cửa.
Các chương trình quy hoạch cảnh quan thiết kế xây dựng các công trình kiến trúc, du lịch góp phần bảo tồn thiên nhiên, cơ sở hạ tầng. Phát triển du lịch đóng góp tích cực trong việc bảo vệ các loài động vật hoang dã, thiết kế các cơ sở du lịch chất lượng tốt và thân thiện với môi trường.3 Đối với văn hóa-xã hội Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, mỗi xã hội đều có nền văn hóa tương ứng với nó và phát triển theo sự phát triển sản xuất vật chất của xã hội. Việc phát triển du lịch có tác dụng thúc đẩy xây dựng văn minh tinh thần. Tham gia hoạt động du lịch làm tăng sự hiểu biết của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất nước con người, lịch sử văn hóa xã hội của quốc gia.
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, quê hương được tăng lên, có tinh thần trách nhiệm, tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường. Du lịch tác động lên nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội môi trường tại cùng một điểm đến du lịch. Khi du lịch phát triển có thể làm tăng sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương, cơ sở vật chất được cải thiện và đầu tư nhiều hơn, nâng cao mức sống của cư dân địa phương. Có thể nói du lịch mang đến không ít những lợi ích trước mắt cho cộng đồng dân cư địa phương.
Bên cạnh đó, du lịch cũng mang theo những tác động tiêu cực mà người chịu thiệt thòi nhất vẫn là người dân. Nó có thể làm sa sút quan niệm đạo đức, bắt chước nền văn hóa của khách ngoại quốc mà họ cho là thời thượng làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống vốn có của địa phương. Đồng thời du lịch cũng làm cho các tệ nạn xã hội như mại dâm, trộm cướp, tội phạm và cờ bạc gia tăng (Liu & Var, 1986 ; Milman & Pizam, 1988).