Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch (mã số 981010.01) của nghiên cứu sinh Dương Thị Hiền được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đức Thanh, bảo vệ năm 2023. Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề xung đột giữa cư dân địa phương và các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng tại khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa.
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Về mặt lý luận, du lịch cộng đồng được khẳng định đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và bảo tồn tài nguyên, song cũng tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực như phân chia lợi ích thiếu công bằng, gia tăng chi phí sinh hoạt, ô nhiễm môi trường, biến đổi văn hóa bản địa và suy giảm gắn kết cộng đồng. Những mâu thuẫn này là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa các bên liên quan, gây cản trở phát triển bền vững. Khảo sát dữ liệu học thuật cho thấy các nghiên cứu về xung đột tại điểm đến du lịch cộng đồng ở Việt Nam còn rất hạn chế. Khi tra cứu trên hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (
db0.vn) với các từ khóa "du lịch cộng đồng", "xung đột", "các bên liên quan", kết quả không có tài liệu nào. Trên các cơ sở dữ liệu quốc tế (Web of Science, Scopus, ScienceDirect, IEEE, Sage, SpringerLink, ProQuest), số lượng nghiên cứu cũng hạn chế: nếu tìm kiếm tiêu đề xuất hiện đồng thời ba cụm từ khóa tiếng Anh tương ứng thì chỉ có 1 bài trên Web of Science, 1 bài trên ScienceDirect và 9 bài trên Scopus; mở rộng ra toàn văn bài viết chỉ có 56 tài liệu liên quan. Về phương pháp, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp định tính đơn lẻ (phỏng vấn sâu, điền dã dân tộc học), thiếu vắng các nghiên cứu thực chứng kiểm định định lượng về tác động của các yếu tố tiền đề tới xung đột giữa cư dân với đồng thời nhiều nhóm bên liên quan.
Về mặt thực tiễn, khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa được xem là lõi nghèo của tỉnh với thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 3,6 triệu đồng/tháng (thấp hơn mức trung bình cả nước là 4,2 triệu đồng/tháng). Dù du lịch cộng đồng được xem là giải pháp tạo sinh kế quan trọng, thực tiễn tại các điểm đến như huyện Bá Thước và Quan Hóa đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn: doanh nghiệp xây dựng công trình ồ ạt hoặc trái phép, gây ô nhiễm nguồn nước; chính quyền địa phương chậm xử lý sai phạm; sự gia tăng lượng khách du lịch làm phát sinh nguy cơ xói mòn văn hóa và áp lực tài nguyên.
-
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích thực trạng xung đột giữa cư dân địa phương và các bên liên quan tại các điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hóa; đánh giá, kiểm chứng vai trò của các yếu tố tiền đề (sự tham gia, cảm nhận lợi ích và cảm nhận tổn hại từ du lịch) tác động đến sự xung đột này; từ đó đề xuất các hàm ý chính sách giúp nhà quản lý kiểm soát xung đột, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
-
Câu hỏi nghiên cứu:
- Cư dân và các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hoá xung đột với nhau về các vấn đề gì?
- Sự tham gia của cư dân ảnh hưởng tới sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan như thế nào?
- Cảm nhận của cư dân về lợi ích và tổn hại từ du lịch ảnh hưởng tới sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan như thế nào?
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hóa; Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 6 điểm đến du lịch cộng đồng thuộc 2 huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa: bản Báng, bản Đôn, bản Kho Mường, bản Am Hiêu (huyện Bá Thước); bản Hang, bản Mười (huyện Quan Hóa). Đây là các địa bàn có hoạt động lưu trú qua đêm, có cư dân tham gia, có doanh nghiệp hoạt động, có sự điều phối của chính quyền và đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống điểm đến (mô hình TALC).
- Phạm vi thời gian: Quá trình điền dã, khảo sát thực hiện từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022. Thái độ và hành vi xung đột được thu thập theo phương pháp hồi tưởng từ khi du lịch xuất hiện ở cộng đồng (đầu thập niên 2000) đến tháng 3/2022. Dữ liệu thực trạng phát triển du lịch được cập nhật đến hết năm 2021.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào loại xung đột liên nhóm (inter-group conflict) giữa cư dân địa phương với ba nhóm bên liên quan chính: khách du lịch, doanh nghiệp du lịch và chính quyền địa phương. Các yếu tố tiền đề tác động đến xung đột được khảo sát và phân tích thực chứng từ góc nhìn của nhóm cư dân địa phương.
- Khách thể nghiên cứu: Cư dân địa phương (nhóm làm nông, lâm nghiệp, thủ công; nhóm tham gia dịch vụ du lịch; nhóm công chức, viên chức); đại diện doanh nghiệp du lịch (chủ đầu tư, nhà quản lý homestay, lữ hành); cán bộ quản lý nhà nước (cán bộ văn hóa xã, chuyên viên Phòng Văn hóa và Thông tin huyện); khách du lịch tại điểm đến.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Dựa trên quy trình tổng quan có hệ thống PRISMA (Moher et al., 2009), tác giả đã sàng lọc từ 190 tài liệu thu thập trên các cơ sở dữ liệu quốc tế để chọn lọc 56 bài báo khoa học chuyên sâu về chủ đề xung đột giữa các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng. Tác giả phân loại và tổng quan tài liệu theo các khía cạnh:
| Khu vực địa lý |
Số lượng bài báo |
Tỷ lệ (%) |
Quốc gia cụ thể |
| Châu Á - Thái Bình Dương |
33 |
58,9% |
Trung Quốc (11), Indonesia (5), Hàn Quốc (4), Malaysia (2), Thái Lan (2), Hồng Kông (2), Ấn Độ (1), Philippines (1), Tajikistan (1), New Zealand (1), Úc (1), Israel (1), Việt Nam (1) |
| Châu Phi |
7 |
12,5% |
Tanzania (2), Botswana (1), Ethiopia (1), Malawi (1), Nam Phi (1), Zimbabwe (1) |
| Châu Âu |
5 |
8,9% |
Vương quốc Anh (2), Ba Lan (2), Thụy Điển (1) |
| Bắc Mỹ |
3 |
5,4% |
Hoa Kỳ (3) |
| Nam Mỹ |
2 |
3,6% |
Costa Rica (1), Peru (1) |
| Đa quốc gia xác định |
6 |
10,8% |
Khảo sát đồng thời tại nhiều nước |
| Tổng cộng |
56 |
100% |
56 công trình |
Về phương pháp nghiên cứu của 56 bài báo này, nghiên cứu định tính chiếm ưu thế với 43 bài (phỏng vấn sâu: 15 bài; tổng quan hệ thống: 8 bài; phân tích diễn ngôn: 2 bài; kết hợp nghiên cứu trường hợp, quan sát, thảo luận nhóm: 18 bài); nghiên cứu định lượng gồm 10 bài (khảo sát bảng hỏi); nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng có 3 bài.
Nội dung các công trình trước được tác giả tổng hợp thành năm nhóm:
- Thực trạng xung đột giữa các bên liên quan: Xung đột cư dân - du khách được kiến giải qua mô hình Chỉ số bực mình (IRRIDEX) của Doxey (1975), mô hình chu kỳ sống điểm đến của Butler (1980), mô hình xung đột xã hội của Coser (1956), cùng các nghiên cứu của Yang et al. (2013), Shen et al. (2017), Tsaur et al. (2018), Ye et al. (2013), Kim & Kang (2020) về khác biệt chuẩn mực văn hóa, tiếng ồn, xáo trộn không gian riêng tư và chia sẻ tài nguyên. Xung đột cư dân - chính quyền xuất phát từ chính sách thu hút đầu tư ngoại sinh, bất bình đẳng trong phân bổ quyền lực, thu hồi đất, quy hoạch thiếu minh bạch và buông lỏng quản lý (Jinsheng & Siriphon, 2019; Wang & Yotsumoto, 2019; Xu et al., 2014; Xue & Kerstetter, 2018; Dredge, 2010; Mbaiwa et al., 2008; Liu et al., 2017; Nguyen Thi Ngoc Dung, 2019). Xung đột cư dân - doanh nghiệp tập trung vào việc tranh chấp quyền sở hữu và tiếp cận tài nguyên đất, phân chia doanh thu vé tham quan, ô nhiễm môi trường (Kinseng et al., 2018; Lo & Janta, 2020; Sitikarn, 2008; Engström & Boluk, 2012). Ngoài ra, tài liệu điểm lại các xung đột nội bộ nhóm (giữa hộ làm du lịch và hộ không làm du lịch, giữa các doanh nghiệp bản địa và bên ngoài) theo Ebrahimi & Khalifah (2014), Snyder & Sulle (2011), Feng & Li (2020).
- Khung lý thuyết về xung đột: Áp dụng mô hình Vòng tròn xung đột (Circle of Conflict) của Moore (2003) phân loại 5 nguồn gốc xung đột (quan hệ, thông tin, cấu trúc, lợi ích, giá trị); tiêu biểu là khung ma trận 8 vấn đề của Almeida et al. (2017) và nghiên cứu của Piotr et al. (2020) tại Ba Lan khẳng định xung đột giá trị là mạnh nhất.
- Hệ quả của xung đột: Các quan điểm tiêu cực chỉ ra xung đột làm suy giảm liên kết nguồn lực, giảm sự ủng hộ của cư dân, giảm mức độ hài lòng của khách (Apostolidis & Brown, 2021; Prior & Marcos-Cuevas, 2016; Yang et al., 2013; Tsaur et al., 2018). Ngược lại, Gascón (2012) coi xung đột là động lực thúc đẩy thay đổi tích cực; Okazaki (2008) chia xung đột thành hai loại mang tính xây dựng hoặc mang tính phá hoại.
- Yếu tố ảnh hưởng tới xung đột: Tsaur et al. (2018) đo lường vị thế kinh tế - xã hội và năng lực giao thoa văn hóa; các công trình dựa trên Thuyết Trao đổi xã hội (SET) khẳng định nhận thức lợi ích (perceived benefit) và chi phí/tổn hại (perceived cost), sự gắn bó cộng đồng và sự tham gia của cư dân tác động tới thái độ và hành vi (Ko & Stewart, 2002; Gursoy & Rutherford, 2004; Lee, 2013; Nugroho & Numata, 2020; Wang et al., 2021).
- Quản lý và giải quyết xung đột: Nhóm giải pháp đồng quản lý tài nguyên (Castro & Nielsen, 2001; Feng & Li, 2020; Feti et al., 2020; Ernawati et al., 2018); khuyến khích sự tham gia và nâng cao tính minh bạch, niềm tin (Bhalla et al., 2016; Burgoyne et al., 2017; Lo & Janta, 2020); mô hình quản lý xung đột ba bước của Curcija et al. (2019); cơ chế đàm phán đồng sáng tạo giá trị qua nhóm nòng cốt (Jinsheng & Siriphon, 2019).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Thứ nhất, các công trình đi trước phần lớn nghiên cứu định tính, thiếu các mô hình thực chứng kiểm định định lượng về xung đột giữa cư dân với đồng thời cả ba nhóm: doanh nghiệp du lịch, du khách và chính quyền địa phương. Thứ hai, sự tham gia của cộng đồng (CI), cảm nhận lợi ích (PB) và cảm nhận tổn hại (PC) được nhiều học giả xem là tiền đề quan trọng nhưng mối quan hệ tác động trực tiếp của các yếu tố này đến từng loại xung đột liên nhóm chưa được kiểm chứng đầy đủ bằng mô hình định lượng cấu trúc. Thứ ba, chưa có nghiên cứu học thuật thực chứng nào tại Việt Nam xây dựng hệ thống thang đo chuẩn hóa để đo lường các khía cạnh xung đột này tại địa bàn du lịch cộng đồng miền núi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Khái niệm nền tảng: Luận án làm rõ khái niệm du lịch cộng đồng, điểm đến du lịch cộng đồng, các bên liên quan (stakeholders) và xung đột giữa cư dân với các bên liên quan trên ba phương diện biểu hiện: văn hóa - xã hội, kinh tế, và khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường.
- Lý thuyết nền tảng: Thuyết Trao đổi xã hội (Social Exchange Theory - SET) và mô hình Thuyết Trao đổi xã hội mở rộng của Lee (2013); mô hình Chỉ số bực mình IRRIDEX của Doxey (1975); mô hình Vòng đời điểm đến TALC của Butler (1980); lý thuyết xung đột xã hội của Coser (1956); mô hình Vòng tròn xung đột của Moore (2003).
- Khung phân tích và các biến nghiên cứu: Mô hình nghiên cứu gồm ba biến tiền đề độc lập: Sự tham gia của cộng đồng (Community Involvement - CI), Cảm nhận lợi ích (Perceived Benefit - PB), Cảm nhận tổn hại (Perceived Cost - PC). Biến phụ thuộc là Xung đột giữa cư dân và các bên liên quan, được phân tách thành ba khái niệm: Xung đột cư dân - du khách (RTC), Xung đột cư dân - doanh nghiệp du lịch (REC), và Xung đột cư dân - chính quyền địa phương (RGC).
-
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods), kết hợp định tính và định lượng qua các bước tuần tự:
- Giai đoạn định tính: Tổng quan tài liệu có hệ thống (PRISMA) từ 56 công trình; thực hiện 34 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan tại thực địa (gồm đại diện cư dân nông nghiệp, cư dân kinh doanh du lịch, trưởng bản, cán bộ văn hóa xã, chuyên viên Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, chủ homestay, giám đốc lữ hành và du khách). Dữ liệu phỏng vấn sâu được mã hóa nhằm nhận diện các chủ đề mâu thuẫn, phục vụ điều chỉnh và bổ sung thang đo sơ bộ.
- Giai đoạn định lượng:
- Khảo sát sơ bộ: Tiến hành qua hai đợt (lần 1 và lần 2) để đánh giá sơ bộ độ tin cậy Cronbach's Alpha, hệ số tải ngoài và giá trị phân biệt của thang đo xung đột mới phát triển.
- Khảo sát chính thức: Thu thập dữ liệu qua bảng hỏi tự điền với cỡ mẫu phân tầng gồm 448 phiếu hợp lệ từ cư dân địa phương tại 6 bản khảo sát.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM). Quy trình phân tích gồm hai bước: (1) Đánh giá mô hình đo lường (độ tin cậy nhất quán nội tại qua Cronbach's Alpha và độ tin cậy tổng hợp CR; giá trị hội tụ qua hệ số tải outer loading > 0,708 và phương sai trích xuất trung bình AVE > 0,5; giá trị phân biệt qua tiêu chí Fornell-Larcker, tỷ số HTMT < 0,85 hoặc < 0,90, và hệ số tải chéo cross-loadings); (2) Đánh giá mô hình cấu trúc (kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai VIF, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa CI, PB, PC đến RTC, REC, RGC bằng kỹ thuật Bootstrapping).
-
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: 56 bài báo quốc tế chọn lọc; gần 200 tài liệu sách, tạp chí chuyên ngành; các văn bản chỉ đạo, nghị quyết (Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa); báo cáo thống kê tình hình phát triển du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa; đề án phát triển du lịch cộng đồng của UBND các huyện Bá Thước và Quan Hóa.
- Dữ liệu sơ cấp: Bản ghi âm và biên bản mã hóa của 34 cuộc phỏng vấn sâu; 448 phiếu điều tra khảo sát định lượng hợp lệ thu thập trực tiếp tại thực địa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về xung đột giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng
Chương này hệ thống hóa toàn bộ các nghiên cứu trong và ngoài nước về xung đột tại điểm đến du lịch cộng đồng. Thông qua mô hình PRISMA, tác giả phân tích chi tiết 56 công trình quốc tế, chỉ ra xu hướng gia tăng mạnh mẽ của các nghiên cứu về chủ đề này từ năm 2016 đến nay, với hai diễn đàn xuất bản chủ yếu là Journal of Sustainable Tourism và Tourism Management. Địa bàn nghiên cứu phân bố tập trung nhiều nhất tại Châu Á - Thái Bình Dương (58,9%) và Châu Phi (12,5%). Nội dung tổng quan luận giải sâu sắc 5 khía cạnh: thực trạng xung đột giữa cư dân với du khách, chính quyền, doanh nghiệp và xung đột nội bộ nhóm; các mô hình lý thuyết giải thích xung đột; hệ quả đa chiều của xung đột; các yếu tố tiền đề ảnh hưởng; và các cơ chế can thiệp quản lý xung đột. Từ đó, tác giả xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu chính: sự khan hiếm của các nghiên cứu thực chứng kiểm định định lượng đa bên, sự thiếu vắng bằng chứng kiểm tra vai trò tiền đề của sự tham gia và cảm nhận chi phí/lợi ích đối với xung đột, và sự trống vắng của các công trình học thuật về xung đột du lịch cộng đồng tại địa bàn miền núi Việt Nam.
Chương 2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho luận án. Tác giả định nghĩa và làm rõ các khái niệm bản chất về du lịch cộng đồng, điểm đến du lịch cộng đồng, phân loại các nhóm bên liên quan và phân tích biểu hiện của xung đột liên nhóm trên ba lĩnh vực: văn hóa - xã hội (lối sống, thuần phong mỹ tục, tiếng ồn, ứng xử thiếu văn minh), kinh tế (phân chia lợi nhuận, quyền bán hàng, chênh lệch giàu nghèo), và tài nguyên môi trường (chiếm dụng nguồn nước, xả rác thải, xây dựng lấn chiếm đất đai, xâm hại rừng). Trên cơ sở lý thuyết Trao đổi xã hội mở rộng, mô hình IRRIDEX của Doxey và mô hình TALC của Butler, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cấu trúc thể hiện mối quan hệ tác động của ba yếu tố tiền đề: Sự tham gia của cộng đồng (CI), Cảm nhận lợi ích (PB) và Cảm nhận tổn hại (PC) tới ba dạng xung đột: Xung đột cư dân - du khách (RTC), Xung đột cư dân - doanh nghiệp du lịch (REC) và Xung đột cư dân - chính quyền địa phương (RGC), đồng thời thiết lập hệ thống các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.
Chương 3. Địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày căn cứ lựa chọn địa bàn và chi tiết hóa phương pháp luận nghiên cứu:
- Đặc điểm địa bàn: Khu vực miền núi Thanh Hóa có tài nguyên văn hóa đa dạng của đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn. Hoạt động du lịch cộng đồng đạt bước phát triển với lượng khách năm 2020 đạt 1.000 lượt và năm 2021 đạt 950.000 lượt khách; số cơ sở kinh doanh homestay tăng từ 105 (năm 2020) lên 125 (năm 2021). Địa bàn khảo sát gồm 6 bản: bản Đôn, bản Báng, bản Kho Mường, bản Am Hiêu (huyện Bá Thước); bản Hang, bản Mười (huyện Quan Hóa). Sáu địa bàn này đại diện cho các pha phát triển khác nhau theo mô hình chu kỳ sống điểm đến TALC (khám phá, tham gia, phát triển).
- Quy trình phát triển công cụ: Kết hợp thang đo kế thừa từ y văn quốc tế về CI, PB, PC với kết quả phân tích định tính từ 34 cuộc phỏng vấn sâu. Tác giả xây dựng bộ thang đo đo lường khái niệm xung đột giữa cư dân và các bên liên quan gồm 21 biến quan sát. Quy trình khảo sát thử nghiệm qua 2 bước (khảo sát sơ bộ lần 1 và lần 2) để sàng lọc biến qua kiểm định Cronbach's Alpha và hệ số tải chéo.
- Khảo sát chính thức và phân tích: Cỡ mẫu 448 phiếu phân tầng theo tỷ lệ dân cư tại 6 bản. Thiết lập quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm chuyên dụng thông qua thuật toán PLS Algorithm và kỹ thuật Bootstrapping để đánh giá mô hình đo lường và kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố toàn diện các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm:
- Mô tả mẫu nghiên cứu: Trình bày cơ cấu nhân khẩu học của 448 quan sát (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ tham gia hoạt động du lịch).
- Thực trạng xung đột qua nghiên cứu hỗn hợp: Kết hợp bảng mã hóa kết quả phỏng vấn sâu và giá trị trung bình (Mean) của các thang đo thành phần để chỉ ra hiện trạng:
- Xung đột cư dân - du khách (RTC): Nảy sinh từ hành vi thiếu tôn trọng phong tục tập quán, ăn mặc phản cảm, gây ồn ào vào ban đêm, xả rác bừa bãi và làm mất không gian yên tĩnh truyền thống.
- Xung đột cư dân - doanh nghiệp (REC): Tập trung vào việc các doanh nghiệp bên ngoài chiếm đoạt cơ hội kinh doanh, thu gom đất đai, xây dựng bê tông hóa phá vỡ cảnh quan, ngăn chặn lối đi chung và xả thải gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của cư dân.
- Xung đột cư dân - chính quyền (RGC): Bắt nguồn từ chính sách quy hoạch thiếu minh bạch, buông lỏng quản lý trật tự xây dựng, thiên vị nhà đầu tư bên ngoài, thiếu hỗ trợ kinh phí bảo tồn và không lắng nghe tiếng nói của cộng đồng trong các cuộc họp lấy ý kiến.
- Kết quả đánh giá mô hình đo lường PLS-SEM: Thang đo 21 biến quan sát xung đột đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ cao; các chỉ số kiểm định hệ số tải ngoài, độ tin cậy tổng hợp CR, hệ số Cronbach's Alpha, phương sai trích xuất trung bình AVE đều đáp ứng ngưỡng quy định; đạt giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn Fornell-Larcker và tỷ số HTMT.
- Kết quả mô hình cấu trúc SEM: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (VIF); kiểm định các giả thuyết tác động của Sự tham gia (CI), Cảm nhận lợi ích (PB) và Cảm nhận tổn hại (PC) tới RTC, REC, RGC. Kết quả xác nhận mức độ giải thích và ý nghĩa thống kê của các mối quan hệ tiền đề.
- Thảo luận và kiến nghị: Thảo luận so sánh kết quả phát triển thang đo và các mối quan hệ tiền đề với y văn quốc tế; đề xuất nhóm kiến nghị thực tiễn về hoàn thiện quy hoạch, thiết lập cơ chế tham vấn cộng đồng, phân bổ công bằng nguồn thu từ du lịch và kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động xây dựng, bảo vệ môi trường sinh thái tại khu vực miền núi Thanh Hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của nghiên cứu:
- Bối cảnh thời gian thu thập dữ liệu: Giai đoạn điền dã khảo sát (tháng 4/2021 đến tháng 3/2022) chịu tác động nhất định bởi đại dịch Covid-19, khiến hoạt động đón khách và sự tương tác giữa các bên liên quan tại thực địa có những biến động so với điều kiện thông thường.
- Góc nhìn khảo sát mô hình định lượng: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, việc kiểm định mô hình cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng mới chỉ được thực hiện đơn chiều từ góc nhìn của nhóm cư dân địa phương, chưa triển khai khảo sát định lượng đồng thời góc nhìn của doanh nghiệp, chính quyền và du khách.
- Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu thực nghiệm giới hạn tại 6 bản thuộc hai huyện Bá Thước và Quan Hóa, chưa bao quát toàn bộ 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng đa chiều tới các nhóm khách thể khác (doanh nghiệp du lịch, nhà quản lý nhà nước, khách du lịch) để so sánh đối chứng nhận thức về xung đột giữa các bên.
- Mở rộng kiểm chứng bộ thang đo 21 thành phần và mô hình cấu trúc tại các điểm đến du lịch cộng đồng thuộc các vùng sinh thái, văn hóa khác tại Việt Nam và khu vực.
Giá trị tham khảo
Câu hỏi thường gặp
-
Câu hỏi 1: Thang đo xung đột giữa cư dân và các bên liên quan trong luận án gồm bao nhiêu thành phần và được cấu trúc như thế nào?
Trả lời: Thang đo do tác giả phát triển gồm 21 thành phần đo lường, được chia thành ba nhóm: (1) Xung đột giữa cư dân và du khách (RTC) gồm 10 thành phần; (2) Xung đột giữa cư dân và doanh nghiệp du lịch (REC) gồm 6 thành phần; (3) Xung đột giữa cư dân và chính quyền địa phương (RGC) gồm 5 thành phần.
-
Câu hỏi 2: Tổng quan hệ thống PRISMA của luận án đã chọn lọc bao nhiêu bài báo khoa học và phân bố theo khu vực ra sao?
Trả lời: Luận án chọn lọc 56 bài báo khoa học từ các cơ sở dữ liệu quốc tế có bình duyệt. Phân bố địa bàn gồm: Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 58,9% (33 bài), Châu Phi chiếm 12,5% (7 bài), Châu Âu chiếm 8,9% (5 bài), Bắc Mỹ chiếm 5,4% (3 bài), Nam Mỹ chiếm 3,6% (2 bài), và các nghiên cứu đa quốc gia chiếm 10,8% (6 bài).
-
Câu hỏi 3: Địa bàn nghiên cứu thực địa cụ thể của luận án gồm những địa phương nào?
Trả lời: Luận án thực hiện khảo sát tại 6 bản thuộc hai huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa: bản Đôn, bản Báng, bản Kho Mường, bản Am Hiêu (thuộc huyện Bá Thước); bản Hang, bản Mười (thuộc huyện Quan Hóa). Các địa bàn này được chọn vì đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống điểm đến theo mô hình TALC của Butler (1980).
-
Câu hỏi 4: Cỡ mẫu sơ cấp được sử dụng để phân tích dữ liệu trong luận án là bao nhiêu?
Trả lời: Dữ liệu sơ cấp của luận án bao gồm 34 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan (cư dân, doanh nghiệp, chính quyền, du khách) và 448 phiếu điều tra bằng bảng hỏi tự điền hợp lệ từ cư dân địa phương phục vụ phân tích định lượng mô hình cấu trúc PLS-SEM.
-
Câu hỏi 5: Các yếu tố tiền đề nào được đưa vào mô hình để kiểm định tác động tới xung đột tại điểm đến?
Trả lời: Dựa trên Thuyết Trao đổi xã hội mở rộng, mô hình nghiên cứu thiết lập ba biến tiền đề độc lập tác động đến các dạng xung đột gồm: Sự tham gia của cộng đồng (Community Involvement - CI), Cảm nhận lợi ích (Perceived Benefit - PB) và Cảm nhận tổn hại (Perceived Cost - PC).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thị Hiền là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề xung đột giữa cư dân địa phương và các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng tại khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa. Bằng việc phối hợp phương pháp tổng quan hệ thống PRISMA, phỏng vấn sâu định tính và kỹ thuật phân tích định lượng PLS-SEM trên mẫu 448 cư dân, luận án đã xây dựng bộ thang đo 21 thành phần và kiểm chứng tác động của sự tham gia, cảm nhận lợi ích cùng cảm nhận tổn hại đến xung đột liên nhóm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác quy hoạch, điều chỉnh chính sách quản lý và hài hòa lợi ích giữa các bên nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại các điểm đến du lịch cộng đồng.