CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CUU VE XUNG ĐỘT GIỮA CAC BEN LIEN QUAN TRONG PHAT TRIEN DU LICH CONG DONG 1. Thông tin chung về các nghiên cứu Bằng các từ khoá: du lịch cộng déng/community based tourism, xung độtconfiict, các bên liên quan/stakeholder, cùng với các từ, cụm từ đồng nghĩa như community tourism, CBT, community based ecotourism, community participation tourism (community based tourism); tension, dispute, disagreement, discord (conflict) va actors, locals, residents (stakeholder), stakeholder relationship, nghién cứu sinh (NCS) đã tìm kiếm được 190 tài liệu trên các nguồn cơ sở dữ liệu (như Web of Science, Scopus, Science Direct, IEEE Xplore Digital Library, Sage, Springe Link, Proquest). Dựa vào mô hình PRISMA (Moher et al., 2009), NCS đã phân loại và chon loc được 56 bai báo khoa học có nội dung nghiên cứu về vấn đề xung đột giữa các bên liên quan.
Qua phân tích tông hợp tải liệu, bức tranh chung về xung đột giữa các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng (DLCĐ) có thể được hình dung như sau: - Về thời gian Chủ đề DLCĐ đã được tiếp cận từ những năm 1980s (Mtapuri et al., 2015), nhưng những nghiên cứu về xung đột tại điểm đến dường như mới chỉ được các nhà nghiên cứu đề cập từ những năm 2000s. Tuy nhiên, chỉ trong 5 năm trở lại, chủ đề này mới thực sự được chú ý nhiều (Hình 1. Các nghiên cứu này được xuất bản chủ yếu bởi Tạp chí Du lịch bền vững (Journal of Sustainable Tourism) và tạp chí Quản lý du lịch (Tourism Management) (Hình 1. 18 12 10 10 8 6 5 5 4 2m—01 2E«0U1D3 2m014 2 2 2 2 2 T1 1 1 1 1 0 0 0 , II "II I san tune nwaanc a ve) .o é œ ©=©ccc sec & — bê x = * =&<=c=e==e=ec=e=ce=c = S =) = Anaaqanarganaraa a a a N a Hinh 1.
So lượng nghiên cứu theo năm xuát ban Tourism Management Journal of Sustainable Tourism Sustainability Asia Pacific Journal of Tourism Research Tourism Planning and Development Tourism Recreation Research Tourism Management Perspectives Frontiers in Psychology Asian Anthropology Annals of Tourism Research African Journal of Hospitality,. Tourism in Marine Environments Tourism Economics Singapore Journal of Tropical Geography PLoS ONE Leisure Studies Journal of Travel Research Journal of Mekong Societies Journal of Hospitality and Tourism. Journal of Environmental Management. Journal of Ecotourism Journal of Destination Marketing and.
International Journal of Culture. International Journal of Contemporary. Environmental Science and Policy Destination Marketing Management Current Issues in Tourism lo} ¬ nN 0œ + wu an » œ wo Hình 1. Số lượng nghiên cứu theo don vị xuất ban 1 `© - Địa điểm nghiên cứu Về địa bàn, các nghiên cứu về xung đột tại DLCD được thực hiện ở nhiều vùng khác nhau, nhưng chủ yếu là rải rác ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Á và châu Phi (Bảng 1.
Số lượng nghiên cứu ở Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Phi lần lượt chiếm 58. 5 nghiên cứu được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau. Địa bàn nghiên cứu về chủ dé xung đột tại điểm đến du lịch cộng đồng chia theo quốc gia Số lượng nua ko. Khu vực ¬¬ Tỉ lệ Quoc gia nghiền cứu Trung Quốc (11), Indonesia (5), An Độ Châu Á - (1), Hàn Quốc (4), Malaysia (2), Thái Bình 33 58.9% Philippines (1), Tajikistan (1) Thái Lan Duong (2), Hong Kong (2), New Zealand (1), Uc (1), Israel (1), Viét Nam (1) Botswana (1), Ethiopia (1), Malawi (1), Chau Phi 7 12.5% Nam Phi (1), Tanzania (2), Zimbabwe (1) A Vương quốc Anh (2), Ba Lan (2), Th Chau Au 5 8.9% el @) n (2), Thuy Dién (1) Bac My 3 5.4% Hoa Ky (3) Nam My 2 3.6% Costa Rica (1), Peru (1) Da quốc .8% xac dinh Tong 56 100% 20 ae * Azores (Post) ; = leap} Saudi Arabia Neutral 2o oct tye Anh Jami Eat leper Sahar 1 3 ube.
âm © ingulla Capeverde | ". Miron, Fed Sat seat mm. " Papu i inch, a LESS Selon lalands Cook blandi walt Vanuatu Franch Polynesia New Galedonia “Số lượng nghiên cửa chia theo quốc gia trên thé giới : LAnkveles Hình 1. Địa bàn nghiên cứu chủ đề xung động tại điểm đến du lịch cộng dong (Kích thước của các điểm thé hiện số lượng bai báo) 21 Tại Việt Nam, DLCĐ cũng đã được các học giả thảo luận sôi noi từ những năm 2000s.
Các nghiên cứu chủ yếu bàn về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc và phương hướng phát trién DLCĐ (Bùi Thi Hải Yến, 2012; Võ Quế, 2006). Nhiều dé tài, dự án các cấp đã được thực hiện nhằm xây dựng mô hình DLCD, đánh giá thực trạng và chiến lược phát triển DLCD tại các địa phương cụ thé (ví dụ: Đặng Trung Kiên, 2020; Đào Ngọc Cảnh, 2020; Đậu Quang Vinh, 2019; Trần Thị Lan, 2017; Võ Qué, 2003; Vương Thị Hải Yến, 2015). Đối với chủ đề xung đột giữa các nhóm liên quan tại điểm đến, số lượng nghiên cứu còn khá hạn chế. Bằng các từ khoá đã trình bày, NCS chi tìm thấy một nghiên cứu về đề tài vai trò của người dân dai phương trong phát triên DLCĐ và có đề cập tới vấn đề xung đột giữa cư dân và chính quyền địa phương (Nguyen Thi Ngoc Dung, 2019).
Ngoài ra, NCS tìm được một bài viết khái quát về tính xung đột trong phát triển du lịch nói chung của Phạm Trọng Lê Nghĩa (2010) và một số bài viết trên báo tin tức trực tuyến về vấn đề này (Đan Phượng, 2017; Thân Vĩnh Lộc, 2016). Tuy nhiên các bài viết này không mang tính học thuật nên không được đưa và danh mục các tài liệu tổng quan. - Phương pháp nghiên cứu Các nhà nghiên cứu đã sử dụng rất nhiều phương pháp dé giải quyết vấn dé, trong đó phương pháp nghiên cứu định tính (đặc biệt là phương pháp phỏng vấn, phỏng van sâu) đường như phù hợp hơn va được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu về xung đột. Ngoài ra, một số nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi hoặc kết hợp cả nghiên cứu định tính và định lượng dé thực hiện (Bang 1.
Phương pháp nghiên cứu được sử dung trong các bài báo về xung đột giữa các bên liên quan Phương pháp Số lượng Định tính 43 Phỏng van, phỏng van sâu 15 Tổng quan hệ thống 8 Phân tích diễn ngôn 2 Kết hợp nhiều phương pháp định tính: nghiên cứu trường hợp, phỏng van, thảo luận nhóm, quan sát,. 18 Dinh lượng 10 22 Phương pháp Số lượng Khảo sát bằng bảng hỏi 10 Kết hợp (Định tính và định lượng) 3 Tổng 56 1. Nội dung của các nghiên cứu Các nghiên cứu di trước vê dé tài xung đột giữa các bên liên quan tại điêm đên du lịch đã làm rõ được nhiêu nội dung quan trọng. Nhìn chung, nội dung của các nghiên cứu này có thê được chia thành năm nhóm chính như sau: Thứ nhất, những nghiên cứu về thực trạng xung đột giữa các bên liên quan tại điểm đến du lịch: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với sự tham gia của nhiều bên liên quan.
Trong quá trình tương tác, sự bất đồng, căng thang, xung đột giữa các bên là điều không thể tránh khỏi. Bằng các phương pháp nghiên cứu đa dạng, các nhà nghiên cứu đã khăng định sự xung đột có thê xảy ra giữa tất cả các bên, cả liên nhóm và nội bộ nhóm. Trong đó, mỗi nhóm đối tượng xung đột về các vấn đề khác nhau và nguyên nhân xung đột cũng rất đa dạng. + Cu dân — du khách Trong mô hình Chỉ số bực mình (IRRIDEX model) (Hình 1.
Theo tác giả, khi những “người lạ” đầu tiên xuất hiện tại địa phương, cư dân (nhất là trẻ nhỏ) thường cảm thấy to mò, phan khích với những điều khác lạ của du khách (như trang phục, ngoại hình, ngôn ngữ, giọng nói, v. Người dân cũng nhận thấy sự cải thiện trong chất lượng cuộc sống của họ nhờ những lợi ích kinh tế thu được từ việc bán sản phẩm cho du khách, vì vậy họ tỏ ra phan khích, thân thiện (euphoria). Khi lượng khách xuất hiện nhiều hơn, những điều mới lạ đó trở nên quen thuộc và cư dân bắt đầu tỏ ra hờ hững. Khi ngành công nghiệp du lịch phát triển đến một giai đoạn nhất định, số lượng du khách tăng lên, thậm chí còn đông hơn số lượng người địa phương, người dân phải chia sẻ nguôn lực, nguôn tài nguyên vôn đang dân cạn kiệt với du khách.
23 Những van dé này có thé vượt qua những lợi ích thu được về kinh tế. Kết quả là, những xung đột xuất hiện, người dân chuyển sang thái độ tiêu cực với du lịch (khó chịu và phản kháng). Tích cực Thân thiện dđkvcThâớủáuộưnia Thờ ơ Khó chịu Phản kháng Tiêu cực Hình 1. Mô hình chỉ số bực mình (IRRIDEX model) Nguồn: (Doxey, 1975) Như vậy, nếu phân tích theo mô hình lý thuyết IRRIDEX thì sự xung đột giữa người dân và du khách chỉ xuất hiện khi du lịch bước vào giai đoạn phát triển (theo chu kỳ sống của điểm đến đề xuất bởi Butler (1980)'.
Nhưng trên thực tẾ, sự xung đột giữa cư dân và du khách có thé xuất hiện ngay từ những giai đoạn đầu tiên (khám phá và giới thiệu) (Kim & Kang, 2020; Yang et al. Dựa vào mô hình xung đột xã hội của Coser (1956), nhóm nghiên cứu Yang et al., (2013) đã chỉ ra mối quan hệ giữa các bên liên quan, trong đó có các xung đột giữa cộng đồng địa phương và du khách ngay từ giai đoạn khám phá. Cụ thê, ở giai đoạn này, cộng đồng và du khách thường nảy sinh các xung đột về vấn đề khác biệt ' Theo Butler (1980), một điểm đến du lịch về cơ bản sẽ trai qua 6 giai đoạn: Khám phá (exploration), tham gia (involvement), phát triển (development), củng cố/ bão hòa (consolidation), trì trệ (stagnation) và hậu trì trệ (post stagnation) (suy giảm/ồn định/phục hdi). Hình dáng của đường cong S có sự khác nhau giữa các điểm du lịch khác nhau 24 trong chuẩn mực văn hoá, giá trị, niềm tin.
Tác giả giải thích, khi bắt đầu phát triển du lịch, những người bên ngoài (đặc biệt là khách du lịch) đột ngột tìm đến nơi sinh sống của cộng đồng, người dân địa phương không thể hiểu và thích nghi được với các hành vi và lối sống của những người mới, với những kiểu cách khác lạ so với văn hoá của địa phương, do đó xung đột văn hoá hình thành. Loại xung đột này cũng được đề cập trong các nghiên cứu của Shen et al. (2017) và Tsaur et al. Nhóm tác giả Shen et al.
(2017) đã chỉ ra hành vi tiêu cực của du khách (như gây ồn ào, không chú ý vệ sinh cá nhân, ăn uống ở nơi công cộng hoặc xô day, chen lắn vào hang) đã dẫn đến những ấn tượng tiêu cực, và thậm chí gây ra sự phan nộ mạnh mẽ của cư dân địa phương. Nhóm tác giả Tsaur et al.