mở đầu cho hoạt động "lễ" sau này được diễn ra một cách hệ thống, bài bản hơn. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống tinh thần của con người ngày càng phát triển hơn. Con người bước đầu tìm hiểu, khám phá các quy luật của tự nhiên. Họ cũng phần nào hiểu về tự nhiên nên các hoạt động thờ cúng các hiện tượng tự nhiên cũng dần dần giảm đi.
Tuy nhiên con người phan lớn vẫn cảm thay mình bắt lực trước thế giới bí ân do đó những nghi lễ thờ cúng vẫn phát triển hàng triệu năm qua. Như vậy xét đến cùng nguồn gốc của "lễ" xuất phat từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi trình độ lao động còn thô sơ, phụ thuộc hoàn toan vào tự nhiên thì những nghỉ lễ thờ cúng ra đời và tồn tại vững chai trong đời sống cộng đồng như một điểm tựa tinh thần giúp họ thích nghi và làm bạn với tự nhiên. Ví như người 12 xưa cho rằng hiện tượng mưa là do thần sắm thần sét làm ra, cho nên mới cầu mưa.
Họ tiến hành các nghi lễ tác động vào thần linh bằng cách mô phỏng tiếng sam, tiếng sét dé gọi mưa. Nhưng có nơi lại cho rằng mưa là do thần mặt trời tạo ra cho nên họ nghĩ đơn giản là muốn có mưa thì phải tiến hành một nghỉ lễ dé tác động vào thần Mặt Trời dé cầu mưa. Người Việt vốn là cư dân trồng lúa nước vùng nhiệt đới gió mùa, bởi vậy cho tới nay từ quan niệm, lỗi nghĩ, đến nếp sống của họ về cơ bản thé hiện những đặc trưng của người dân trồng lúa nước. Những quan niệm vũ trụ nguyên sơ của phương Đông cé đại, cũng như của người Việt cô là âm dương tương khắc, tương sinh đã bao trùm lên toàn bộ đời sống tinh thần của nông dân Việt.
Trong tiềm thức, ngoài việc con người tác động tới tự nhiên thì quan hệ con người với con người còn tôn thờ thần núi, thần đất, thần lửa. đều đồng nhất với âm và nhân hóa thành nữ tính - mẹ. Ở đây cái chiêm nghiệm cô sơ đã kết chặt với thế giới tâm linh của con người. Cùng với sự nhận thức về thế giới và xã hội của con người, cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, quan niệm vũ trụ luận và tín ngưỡng cổ sơ trên người Việt cô đã dần được hệ thống hóa và nâng lên tới mức cao hơn.
Đó là quan niệm đồng nhất Mẫu - Mẹ với vũ trụ người Việt cô quy tụ muôn vàn hiện tượng tự nhiên và xã hội. Từ Tứ pháp ( mưa, mấy, sắm,chớp) mang lại Nữ tính mẹ Âu Cơ sinh bọc trứng nở hàng trăm người con là cội nguồn của dân tộc Việt. Xét về nguồn gốc thì trong thời nguyên thủy, lễ hội lúc đó chưa có sự tách biệt khỏi các hoạt động khác của con người như vui chơi, giải trí chúng còn gắn chặt với nhau đó chính là lễ hội sơ khai hay lễ hội nguyên hợp. Song với sự phát triển của con người thì lễ hội cũng phát triển theo và dần dần trở thành một nghi lễ đa dạng.
Hoạt động của con người luôn vươn tới sự sáng tạo và sự hài hòa với môi trường xung quanh. Do vậy mà nghỉ lễ thờ cúng từ chỗ nhăm mục dich ich dụng đã dần hướng tới thẩm mỹ, tác động vào cảm 13 xúc của con người làm cho họ ngoài việc cân băng về tâm lí còn tạo cho họ nhiều niềm vui, chính điều đó giúp con người được thoải mái. Nói đến lễ là nói đến những đặc trưng tiêu biểu như là: tính trật tự, tính quy củ và tính mực thước. Con người khi đứng trước những đối tượng được tôn thờ bao giờ cũng với thái độ nghiêm trang thành kính nhất, do vậy mọi dung tục đời thường đều được rũ bỏ, để lại trong hoạt động lễ tất cả những gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất của cuộc sống.
Theo như Đoàn Văn Trúc thì: “Lé là sự bay to tôn kính với một sự kiện tự nhiên, hu tưởng hay có thực đã qua hay hiện đại được thực hiện theo nghỉ lễ rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lé.cdu mong sự phù hộ độ trì của các đối tượng”[ 5,tr. Họp nhau, cơ quan nhiều người họp để làm việc, gặp, ý tứ và sự lý gặp nhau, bản lĩnh và sự tình gặp nhau. Hi thường gắn với: hội 4m, hội binh, hội diện, hội đồng, hội họp, hội ý, hội kiến, hội minh, hội nghị, hội quán, hội tâm, hội thí, hội thực, hội trường, hội trưởng, hội viên, hội xã. Trong đó không có từ hội lễ 1.
Như vậy học giả Dao Duy Anh không dùng và không dé cập đến từ /é hội hay Hội lễ có thể do quan niệm như trong cuốn Việt Nam văn hoá sử cương đã trình bay va quan niệm là đại hội (vào dam hay vào hội) nên tác gia không dùng từ /é hội hay hội lễ nữa. Tuy nhiên, trong Đại Nam quốc âm tự vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của xuất bản tại Sài Gòn năm 1895: Lé là khuôn phép, phép bày ra cho tỏ điều kính trọng, cho ra điều lịch sự, là của dâng đưa, dâng cúng. Hoi là nhóm họp đông người, gặp gỡ, hiểu biết. Trong "Từ điển Tiếng Việt" do Viện khoa học Xã hội Việt Nam - Viện ngôn ngữ học ấn hành năm 1992: Lé là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu một kỷ niệm, một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó.
Hoi là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt [89]. 14 Nhà Văn hoá học Đoàn Văn Chúc lại xây dựng khái niệm lễ hội từ cụm từ Lễ - Tết - Hội theo nghĩa gốc Hán, và từ khái niệm Lé, khái niệm 7, khái niệm Hội ông cho rằng đều chỉ một loại hình nghi thức, cũng là một loại hình phong tục va trong đời sống xã hội, ba hình thức trên thường xâm nhập vào nhau, đan xen với nhau. Theo ông : "Lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hành theo nghĩ điển rộng lớn và theo phương thức thâm mỹ, nham biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ. Hới là cuộc vui chơi bằng vô số các hoạt động giải trí công cộng diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dip cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhăm biểu đạt sự phan khích, hoan hy của công chứng dự lễ "[12, tr.
Vẫn đề này, chúng tôi tán thành ý kiến của GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng: "lễ hội là một hiện tượng tổng thé, không phải là thực thé chia đôi (phần lễ phần hột) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nao đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử, hay một thần linh nghề nghiệp, thần linh huyền thoại.) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hoá phái sinh dé tạo nên một tổng thể lễ hội. Cho nên trong lễ hội phần lễ là phân gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hop" [73, tr. Lễ và hội là một thé thống nhất không thé chia tách. Lễ là phan tin ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo.
Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hoá thường nhật, phần đời của mỗi con người, của động đồng. Hội gan liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội. Trong thực tế cuộc sống hàng ngày có khi người ta dùng từ "hội" để chỉ toàn thé lễ hội nào đó vi dụ: tháng 3 tray hội Đền Hùng ( lễ hội Đền Hùng) hay tray hội Chùa Hương nhưng đó chỉ là hình thái tu từ, lay cái bộ phận dé chi cái toàn thé. Vì vay trong luận văn này chúng tôi không dùng từ hội /é, hội làng, hay hội mà dùng từ /é hội dé mang tính chính xác và phản ánh hiện tượng lễ hội một cach tông thé, khách quan day đủ.
Nếu như trật tự là nội dung, hình thức, yêu cầu của lễ, thì tính tự do phóng thoáng lại là đặc trưng của hội. Hội khác lễ chính là ở điều đó. Đến với hội con người được phép hỗn độn, cuồng nhiệt, vui chơi hết mình. Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt sự phan khích, hoan hy của công chúng dự lễ.
Qua đó, muốn nhằm đạt tới những khát vọng mà đời thường không có điều kiện và cơ hội hay không được phép thực hiện dé vươn tới cái Chân- Thiện -Mỹ Hội chính là một loại hình văn hóa tổng hợp do con người sáng tạo và tô chức một cách có ý thức, có chủ đích nhân dịp một sự kiện nào đó có liên quan đến cộng đồng. Hội dem lại lợi ích tinh thần cho hàng triệu người của cộng đồng. Hội có nhiều trò vui đến mức hỗn độn, náo nhiệt. Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những tháng ngày lao động vất vả .Đến với lễ hội mọi người được giải tỏa, thăng bang trở lại.
Vậy có thể hiểu hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình và sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những cánh đồng .2 Lễ hội truyền thống Căn cứ vào hình thức tổ chức và tính chất của lễ hội có thể tạm chia làm 2 loại lễ hội: - Lễ hội truyền thống (hay còn gọi là lễ hội dân gian, lễ hội cô truyền). - Lễ hội hiện đại. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lễ hội truyền thống , xem nó như nên tảng, bước đệm dé tìm hiểu sâu hơn lễ hội đền Hùng- một lễ hội mang tâm quôc gia. O đây có nhiêu cách gọi khác nhau về lễ hội 16 truyền thống, hay lễ hội cô truyền, lễ hội dân gian.
Cụm từ truyền thống hay cé truyền đều là từ Hán Việt.