chương I điều 4 của Luật Du lịch “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.TS Trần Đức Thanh: “Du khách là những người từ nơi khác đến và/hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/hoặc của cộng đồng xã hội. Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…” [15, tr. 20] 22 z Như vậy có thể hiểu rằng khách DLVH tham gia du lịch có thể với động cơ nghỉ ngơi, phục hồi tâm sinh lý, tham quan, nghiên cứu, học tập về văn hóa kết hợp với mục đích công vụ khác. Khách DLVH thường đến các di tích lịch sử, những nơi có phong cảnh đặc sắc, gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương.
để tiến hành các hoạt động tham quan tìm hiểu văn hóa lịch sử, tham gia lễ hội. Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm: cơ sở vật chất của ngành du lịch (hệ thống cơ sở ăn uống, vui chơi, giải trí…) là yếu tố trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách; Cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân khác tham gia phục vụ du lịch (giao thông, bưu chính, điện nước…). Những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên, phục vụ khách du lịch. Đồng thời góp phần quyết định độ dài thời gian lưu trú.
Đối với khách DLVH thì cơ sở vật chất kỹ thuật phải có những điều kiện phục vụ đặc trưng như các nhà hàng có những đồ ăn, cách bài trí trang thiết bị hoặc cung cách phục vụ thể hiển văn hóa đặc trưng của điểm đến…; với cơ sở lưu trú ngoài việc thể hiện văn hóa đặc trưng của điểm đến còn phải đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng khách theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo 4 yêu cầu chính là mức độ tiện nghi, thẩm mỹ, vệ sinh và an toàn. Kiến trúc Chùa, Đền Ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước phương Đông, bên cạnh đền, đình thờ thần, chùa Việt là nơi thờ Phật và trong nhiều trường hợp, thờ cả Thần. Việc xây dựng đền, chùa bao giờ cũng là công việc trọng đại đối với nhân dân làng quê Việt Nam. Trước tiên là phải chọn đất xây chùa.
Việc chọn đất thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy, cho rằng vị trí của chỗ ở, thế đất, có ảnh hưởng to lớn đối với con người sống trên đó. Nhìn chung đền, chùa Việt Nam thường được dựng ở những nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp, có mối liên hệ với cộng đồng. Việc ý thức về môi trường cảnh quan tự nhiên và xã hội phải luôn được cân nhắc kỹ càng trong suốt quá trình xây dựng, tu bổ và phát triển. Đặc điểm chung của các di tích kiến trúc nghệ thuật ở Việt Nam đó là: 23 z - Chịu ảnh hưởng nhiều của phong cách mỹ thuật phương Đông.
Được quy hoạch xây dựng tuân theo địa lý của phương Đông và quan niệm âm dương trong kinh Dịch. - Về mặt vị trí địa lý, đạt được các đặc điểm có Long chầu, Hổ phục, có tiền án, hậu trẩm và minh đường, thường xuyên lấy thiên nhiên tô điểm cho kiến trúc, nơi nào thiếu các yếu tố tự nhiên thì tạo ra phong cảnh như đảo hồ, trồng cây để trang trí cho công trình và kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, thường được xây dựng ở những nơi có cảnh đẹp. - Tên gọi của các công trình hay các bộ phận cấu trúc của công trình, hệ thống hoành phi câu đối, đại tự đều có ý nghĩa triết học, là những câu văn hay, xúc tích, những từ mang ý nghĩa triết học. - Các công trình được bố trí xây dựng theo lối đăng đối, có trật tự, các công trình chính thường nằm trên trục dũng đạo, các công trình khác được bố trí đăng đối, có trật tự tiền, hậu ,tả, hữu.
- Phần lớn các di tích được xây dựng bằng vật liệu truyền thống, kết hợp hài hoà các giá trị văn hoá, kiến trúc nghệ thuật giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ. Có thể nói, mỗi DTLS văn hoá thường thể hiện những đặc điểm chung về kiến trúc mỹ thuật của từng thời đại, mang tính phân vùng và phù hợp với điều kiện địa lý tại chỗ. Chùa, đền tuy có những chức năng khác nhau nhưng đều gắn bó và quen thuộc với người dân Việt Nam từ rất lâu. Chùa là nơi để thờ Phật và tu tập của các tăng, ni, Phật tử.
Đền là nơi thờ những người có công lớn với làng, xã hoặc gắn bó với một địa danh nhất định nào đó sẽ được phong Thánh và thờ ở đây. Chùa Chùa Việt Nam bao giờ cũng là một quần thể kiến trúc, gồm các hạng mục công trình được bố trí theo các giải pháp bố cục khác nhau. Tổ hợp không gian chùa luôn tuân theo nguyên tắc khép kín mang tính hệ thống, tạo ra một không gian biệt lập với khu dân cư nhưng không quá cách xa để thuận tiện cho việc tu dưỡng của tăng, ni và giáo hoá chúng sinh. Tên gọi các giải pháp quy hoạch này được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với bình diện kiến trúc chùa, cụ thể như sau: 24 z Kiểu chùa chữ Đinh (丁): có chính điện hay thượng điện (gọi là Đại Hùng Bảo Điện), tức là ngôi nhà đặt các bàn thờ Phật, nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước.
Nhà bái đường đôi khi được gọi là chùa hộ, có lẽ vì ở đây thường được bố trí các tượng Hộ Pháp. Một số chùa tiêu biểu kiểu kiến trúc này là chùa Hà, chùa Bộc (Hà Nội); chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động (Ninh Bình); chùa Trăm Gian (Hải Dương); chùa Dư Hàng (Hải Phòng). Kiểu chữ Công (工): Phổ biến hơn là kiến trúc có nhà chính điện và nhà bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà Thiêu hương, nơi các vị tu hành làm lễ. Kiểu chùa chữ Tam (三 ): thông thường là quy hoạch ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa hạ, chùa trung, chùa thượng, như kiểu chùa Kim Liên ở Hà Nội, chùa Tây Phương ở Hà Tây… Kiểu chùa nội Công ngoại Quốc: Một kiểu chùa khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam là kiến trúc có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường (hay nhà bái đường) ở trước với nhà hậu đường có thể là nhà Tổ hay nhà Tăng xá ở phía sau làm thành một hình chữ nhật bao quanh lấy các kiến trúc khác ở giữa.
Kiểu chùa này gọi là nội Công ngoại Quốc. Có nghĩa là phía trong có hình chữ Công (工), còn phía ngoài có cái khung bao quanh như ở chữ Quốc. Tiêu biểu kiểu kiến trúc này là chùa Cầu (Hội An); chùa Keo (Thái Bình). Chùa Tháp: Ở một số chùa có bố trí tháp Phật lớn ở trước mặt như chùa Dâu, chùa Phổ… nhưng một số chùa khác, các tháp lại ở hai bên chùa hay có vườn tháp riêng.
Về cấu trúc của tháp Phật nói chung đều cấu tạo gồm 4 phần: phần ngầm, đế tháp, thân tháp và ngọn tháp. Phần ngầm có thể được xây theo hình vuông, lục giác, bát giác hoặc tròn; không gian ngầm thường nằm chìm hoàn toàn dưới mặt đất nhưng đôi khi có phần nằm trên mặt đất, phần phía dưới mặt đất (bán âm bán dương). Đền Là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ 25 z công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian.
Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị Thánh theo truyền thuyết dân gian. Địa điểm xây dựng thường được lựa chọn ở những vị trí có liên quan đến những truyền thuyết hoặc sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên hoặc các nhân vật được tôn thờ. Đại thể kiến trúc bên ngoài của đền đài miếu mạo có những đặc điểm cơ bản giống của kiến trúc đình chùa, nhưng nội dung thờ cúng và trang trí nội thất có khác nhau.
Điều kiện phát triển du lịch văn hóa Sự phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung đòi hỏi phải có những điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan cần thiết nhất định nhìn vào sơ đồ 4 ta có thể thấy rõ điều này. Điều kiện chung - Điều kiện thời gian nhàn rỗi Lịch sử ngành Du lịch cho thấy những người có khả năng chi trả cho hoạt động du lịch trước tiên là tầng lớp giàu có, tiếp theo là tầng lớp trung lưu và cuối cùng đến tầng lớp lao động. Điều này cũng xảy ra tương tự khi nói về quỹ thời gian nhàn rỗi. Công chúng bắt đầu đi du lịch khi mà người lao động được hưởng lễ và những ngày nghỉ ăn lương.
Thời gian nhàn rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm phục vụ và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người. Độ dài bình thường của thời gian nhàn rỗi phụ thuộc vào đặc điểm của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian nhàn rỗi và giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ. - Điều kiện nguồn khách Bất kì doanh nghiệp kinh doanh du lịch nào cũng phải xác định cho được nguồn khách của doanh nghiệp từ đâu đến? Họ cần gì nhằm tìm ra khách hàng mục tiêu.
Đây là mối quan tâm cơ bản nhất, vì khả năng của doanh nghiệp thì có hạn mà mỗi loại khách lại có những nhu cầu khác nhau. Do đó tìm ra được đối tượng tiêu dùng loại hình DLVH là doanh nghiệp đã tìm ra được mục đích của mình khi kinh 26 z doanh DLVH. Nhờ việc đánh giá, nắm bắt nhu cầu của du khách sẽ giúp nhà kinh doanh có thể tổ chức và đáp ứng được các nhu cầu, thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng mục tiêu.