phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam Chƣơng 2: Nhà truyền thống của tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và những biến đổi của chúng Chƣơng 3: Nguyên nhân biến đổi và hướng bảo tồn cho những ngôi nhà truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam 8 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỘC NGƢỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM 1. Nguồn gốc tộc ngƣời và sự phân bố dân cƣ 1. Nguồn gốc tộc người Những nghiên cứu gần đây cho thấy địa bàn cư trú của các tộc người Nam Đảo trên thế giới hầu như nằm gọn trong khu vực Đông Nam Á. Dân số của cộng đồng này chiếm tỉ lệ 55,5% dân số chung của toàn khu vực.
Trong số đó, có 5 tộc người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (Chăm, Raglai, Churu, Giarai, Êđê); dân số của 5 tộc người này chiếm tỉ lệ 7,3% tổng dân số các tộc người thiểu số của cả nước; địa bàn cư trú lâu đời của 5 tộc người này là vùng đất thuộc Nam Trường Sơn - Tây Nguyên và dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung [53, tr. Việc tìm hiểu nguồn gốc của các tộc người Nam Đảo là một vấn đề khoa học lớn, đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Việc giải quyết vấn đề nguồn gốc xuất phát của người Nam Đảo ở Việt Nam còn nhiều ý kiến khác nhau. Dựa trên những ý tưởng khoa học kết hợp với nhiều kết quả nghiên cứu gần đây của các ngành khoa học về Khảo cổ, Dân tộc, Nhân Chủng…một số nhà khoa học Việt Nam đã hướng suy nghĩ về cội nguồn lịch sử của những người Nam Đảo ở Việt Nam, là một trong những hệ quả từ quá trình thiên di của lớp người Deutero - Mã Lai thời đồ đá.
Trong quá trình thiên di ấy, một bộ phận của lớp người này đã tiếp cận và dừng chân trên vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Bộ phận này tụ cư thành nhiều nhóm trên khắp địa bàn miền Trung và Nam của Trung Bộ. Chính những người này và con cháu của họ đã sáng tạo ra phức hệ văn hóa Bàu Trám - Sa Huỳnh được các nhà Khảo cổ học xếp vào thời sơ sử. Hai nhà khảo cổ học, Giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hà Văn Tấn đã có những nhận định rất thuyết phục về mối quan hệ giữa các tộc người Nam Đảo với với văn 9 z hóa Sa Huỳnh: “Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng các quốc gia Chăm Pa” [45, tr.49 ]; “Văn hóa Chăm Pa nảy sinh từ văn hóa Sa Huỳnh, người Chăm cổ là con cháu của người Sa Huỳnh cổ” [61, tr.
Bên cạnh vấn đề về nguồn gốc xuất phát của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam nói chung, là vấn đề nguồn gốc hình thành từng tộc người nói riêng trong nhóm tộc người này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Có một số ý kiến cho rằng các tộc người Giarai, Êđê, Raglai, Churu ra đời sau tộc người Chăm, trên cơ sở một bộ phận của tộc người Chăm tách ra mà hình thành…Trong lịch sử có một bộ phận người Chăm vì không chịu đựng nổi sự thống trị của Hindu nên đã từ bỏ nước Lâm Ấp mà thiên di lên vùng Trường Sơn, chinh phục và hòa huyết với cư dân bản địa rồi hình thành nên người Giarai và người Êđê, khai phá cao nguyên Đắk Lắk - Pleiku…Gần đây trong cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Nam” của Viện dân tộc học có nhận định rằng “Những nhóm cư trú kế cận người Chăm giáp với đồng bằng như Churu, Raglai mang nhiều yếu tố sâu sắc của văn hóa Chăm, gợi mối nghi ngờ: họ là một bộ phận của người Chăm mới tách ra và chuyển lên miền núi” [60, tr.59] Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã bước đầu tìm hiểu được nguồn gốc của tộc người Nam Đảo ở Việt Nam như sau: Vào thời đại Đá Mới, trên địa bàn thuộc miền Trung và miền Nam Trung Bộ của Việt Nam ngày nay đã có lớp người Deuterco - Malais sinh sống. Lớp người này phân chia thành nhiều nhóm, dừng chân trên từng địa bàn riêng, có những đặc thù về địa lý sinh thái. Đời sống của mỗi nhóm như vậy phải thích nghi và chịu tác động của những yếu tố địa lý - sinh thái - nhân văn đặc thù, dần dần làm biến đổi và tạo ra những khác biệt nhất định so với ban đầu trong các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ… Đó là một quá trình lịch sử lâu 10 z dài.
Trong đó sự tự thân vận động của mỗi nhóm trong không gian sinh tồn của měnh không tránh khỏi những tác động nhất định từ các ngữ hệ ở nhiều vùng trên thế giới đến. Con đường phân ly của lớp người Deutero - Malais ở niềm Nam Đông Dương đã diễn ra như vậy để định hình những nhóm người có nét riêng trong văn hóa và hình thành tâm lí tộc người riêng. Có thể khi bước vào thời đại kim khí, thì người Malayo - Polyesien ở miền nam Đông Dương đã hình thành năm nhóm người. Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Gia Lai - Kom Tum, sinh tụ trên vùng đất có nhiều dòng sông chảy qua và có nhiều thác nước.
Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là người Giarai. Trong ngôn ngữ Nam Đảo, từ “giơ rai” có nghĩa là “thác nước”. Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Đắk Lắk màu mỡ, sinh tụ trên một vùng đất có nhiều suối và rừng tre. Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là “Orang Êđê”.
Trong ngôn ngữ Nam Đảo thì từ “orang” nghĩa là “người”, “êđê” có nghĩa là “tre”. Một nhóm dừng chân trên vùng thung lũng Đran tương đối bằng phẳng thuộc cao nguyên Lang Bian, gần nơi cư trú của tộc người Cơ Ho (thuộc ngữ hệ Môn- Khmer). Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là người Cru (Chu ru). Trong ngôn ngữ Nam Đảo, từ “Cru” có nghĩa là “chiếm đất mới”.
Một nhóm dừng chân ở vùng rừng rậm, núi non hiểm trở thuộc rìa đông của Nam Trường Sơn- Tây Nguyên. Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là Orang Glai. Trong ngôn ngữ Nam Đảo, “Glai” có nghĩa là “rừng rậm”. Tên Orang Glai còn ám chỉ sự phân biệt với người ở biển “Orang La Út” (trong ngôn ngữ Nam Đảo, “Laut” có nghĩa là “biển”.
11 z Một nhóm dừng chân ngay trên vùng đồng bằng hẹp ven biển Đông, nơi có nhiều thuận lợi về mặt địa lý - sinh thái cho sản xuất nông nghiệp và giao lưu quốc tế hơn so với bốn nhóm kể trên. Ngoài ra, nhóm này còn được trực tiếp thừa kế những thành tựu của văn hóa Sa Huỳnh ngay trên địa bàn đã từng là cái nôi của nền văn hóa đó. Với nhiều lợi thế như vậy, nhóm người này sớm tạo ra một nền văn hóa phong phú và rực rỡ cùng một nền kinh tế -xã hội phát triển cao hơn so với bốn nhóm kia, định hình nên một tộc người, nhận tộc danh là Chăm (tên gọi khác là Chàm) [53, tr 22]. Sự phân bố dân cư Sự phát triển nội tại cùng với những chi phối của những biến động lịch sử trong khu vực đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân bố các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam.
Người Giarai có ý thức rõ ràng về lãnh thổ tộc người của mình. Ban đầu người Giarai phân bố cư trú ở lưu vực đông Ia Yun và sông Ba, trên cao nguyên Pleiku. Từ đó người Giarai mở rộng địa bàn cư trú của mình lên phía bắc và xuống phía tây. Cuối cùng của quá trình mở rộng địa bàn cư trú là sự sinh sống xen kẽ giữa tộc người Giarai với các tộc người khác như Bana, Xu đăng…và hình thành những nhóm địa phương của tộc người này.
Ngày nay người ta biết đến 6 nhóm địa phương của người Giarai cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (tập trung trên vùng Giarai - Kom Tum): Giarai Chor, Giarai Hdrung, Giarai Arap, Giarai Mthur, và Giarai Tbuan. Ngày nay dân số của tộc người Giarai có trên 260 nghìn người, đứng đầu trong số 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và đứng hàng thứ 9 trong số 53 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó có 90% cư trú ở tình Gia Lai (1997). Người Êđê lúc đầu sinh tụ trên vùng đất trung tâm cao nguyên Đắk Lắk. Từ đó tộc người này mở rộng địa bàn cư trú của mình tới các vùng như: Krông Pach, Krong Buc, Ea Ka, M’Đắc, Chu MGar, Krong Năng, Krong 12 z Ana…và một số miền đất giáp ranh Đắc Lắc - Phú Yên - Khánh Hòa….
Quá trình phân bố cư trú trên một địa bàn rộng của người Êđê đồng thời là quá trình tộc người này cư trú xen kẽ, tiếp xúc với nhiều tộc người khác như M’nông, Xơ đăng, Giarai…và phân ly thành nhiều nhóm địa phương như: Kpa, Krung, Mthur, Atham, Ktul, Dlie, Kah, Kdung…. Ngày nay dân số của người Êđê là trên 220 nghìn người, đứng hàng thứ hai trong số 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và đứng hàng thứ 10 trong 54 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh Đắk Lắk (91%), kế đó là tỉnh Phú Yên (gần 6%). Người Chăm là tộc người được kế thừa trực tiếp những thành tựu của văn hóa Sa Huỳnh ngay trên lãnh thổ mà người Sa Huỳnh đã từng sinh sống. Xa xưa, người Chăm cư trú trên dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung, thuộc địa phận các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuần ngày nay.
Điều kiện địa lý, sinh thái vùng cư trú và bối cảnh lịch sử đã chi phối mạnh đến sự phát triển nội tại của tộc người Chăm, trong đó có quá trình thu hẹp dần lãnh thổ tộc người về phía Nam. Đồng thời với quá trình thu hẹp lãnh thổ xuống phía nam, một nhóm người Chăm đã di cư đến những miền đất khác, dần dần tạo thành những nhóm địa phương của tộc người này, tiêu biểu là nhóm Chăm Islam ở đồng bằng Sông Cửu Long, ở Thành Phố Hồ Chí Minh và nhóm Chăm Hroi ở Phú Yên - Bình Định hiện nay. Dân số của người Chăm ngày nay là 110 nghìn người, đứng thứ ba trong 5 tộc người Nam Đảo ở nước ta và đứng thứ 15 trong 54 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó tập trung ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (64%), kế đến là ở tỉnh Phú Yên (13%), tỉnh An Giang (12%).