Chương 1. Tổng quan tình hình dịch thuật và nghiên cứu về truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. Chương này luận án tổng thuật lại những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, là tiền đề để luận án kế thừa, từ đó bổ sung những kết quả nghiên cứu mới. Khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và tiêu chí xác lập truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam.
Chương này luận án sẽ trình bày khái niệm thể loại, chỉ ra nguồn gốc và trình bày quá trình hình thành và phát triển cùng xác lập tiêu chí của truyện truyền kỳ văn học trung đại Việt Nam. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa tâm linh. Chương này luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, như: Khái niệm văn hóa tâm linh; Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa và trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Biểu hiện và ý nghĩa của yếu tố tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam từ góc nhìn nghệ thuật và từ mối quan hệ với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á.
Chương này luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ từ góc nhìn nghệ thuật, như: Các kiểu kết cấu truyện truyền kỳ; Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật; Nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên; Không gian và thời gian trong truyện truyền kỳ; Môtip dân gian được sử dụng trong truyện truyền kỳ. Cũng trong chương này, để thấy được đặc trưng riêng của truyện truyền kỳ Việt Nam, chúng tôi 6 luan an triển khai một mục so sánh truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á với những nét tương đồng và dị biệt của nó. Cuối cùng là Kết luận. Những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục: Bảng thống kê xác lập tiêu chí phân loại truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và hầu hết đều được dịch sang chữ quốc ngữ. Hiện nay, các công trình dịch truyện truyền kỳ từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ có khá nhiều. Có những công trình dịch từng tác phẩm truyện truyền kỳ, cũng có những công trình tập hợp các truyện truyền kỳ thành một tuyển tập.
Và cũng đã có nhiều công trình dịch các tác phẩm truyền kỳ của một số nước đồng văn Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Bên cạnh đó, có nhiều tiểu luận, công trình nghiên cứu các tác phẩm truyện truyền kỳ công bố trên các tạp chí hay xuất bản thành sách. Nhờ thế mà chúng tôi gặp khá nhiều thuận lợi khi triển khai đề tài luận án. Trong các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam thì tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của thể loại.
Sau đây, xin được giới thiệu quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục và tổng thuật lại tình hình sưu tầm, khắc in văn bản tác phẩm, tình hình dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ, mà trọng tâm là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục theo ba giai đoạn: từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; từ đầu thế kỷ XX đếm năm 1975 và từ sau năm 1975 đến nay như sau: 1. Quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục Nguyên tác văn bản Truyền kỳ mạn lục đã được khắc in và sao chép nhiều lần. Căn cứ vào tên gọi văn bản các lần in, có thể chia thành hai nhóm: Cựu biên Truyền kỳ mạn lục và Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Nhóm văn bản Cựu biên: hiện chỉ có một văn bản khắc in, 1 Tựa, 1 Mục lục, được khắc in vào niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 8 (1712), văn bản hiện được lưu giữ tại Đông Dương văn khố, Nhật Bản.
Nhóm văn bản Tân biên: căn cứ vào dòng ghi niên đại, hiện có 4 nhóm văn bản. * Bản Vĩnh Thịnh năm thứ 10 (1714), văn bản khắc in, hiện được lưu giữ tại Thư viện Bắc Kinh, Trung Quốc. * Bản Vĩnh Hựu năm thứ 3 (1737), văn bản khắc in, hiện được lưu giữ tại Thư viện Hiệp hội nghiên cứu châu Á, ký hiệu HM. * Bản Cảnh Hưng năm thứ 24 (1763), gồm hai dạng khắc in và chép tay.
Cụ thể như sau: 8 luan an Các bản khắc in mang ký hiệu R.1450-1453, đủ 4 quyển, 20 truyện, hiện được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội. Các bản chép tay mang ký hiệu A.3201/1-4, cũng đủ 4 quyển, 20 truyện, hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. * Bản Cảnh Hưng năm thứ 35 (1774), gồm hai dạng khắc in và chép tay, cụ thể như sau: Các bản khắc in mang ký hiệu VNv.707 (mỗi ký hiệu là một quyển), đủ 4 quyển, 20 truyện; và bản VHv.1491/1-4, cũng đủ 4 quyển, 20 truyện. Các bản này đang được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Bản mang ký hiệu HN.257-258 hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Văn học Việt Nam. Các bản chép tay cũng đầy đủ 4 quyển, 20 truyện, mang ký hiệu VNv.1840, hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngoài ra còn các bản lẻ hoặc thuộc loại khắc in như bản A.1021; hoặc thuộc loại chép tay như VHv. Tình hình giới thiệu, dịch thuật và đánh giá Truyền kỳ mạn lục từ cuối thế kỷ XIX trở về trƣớc Bản dịch đầu tiên từ chữ Hán sang chữ Nôm (có thêm phần giải âm, tập chú) của Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là bản giải âm của Nguyễn Thế Nghi vào nửa đầu thế kỷ XVI, người sống cùng thời với Nguyễn Dữ, nhan đề là Truyền kỳ mạn lục giải âm.
Từ đó, có thể nói diễn Nôm được xem như là khởi thuỷ, là thượng nguồn của văn học dịch trong lịch sử văn học nước nhà. Bản này hiện đã được vị giáo sư lão thành Nguyễn Quang Hồng ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm phiên âm sang quốc ngữ, đã xuất bản và tái bản. Nhận xét đánh giá đầu tiên về tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là Hà Thiện Hán, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ. Trong Lời Tựa, Hà Thiện Hán viết vào ngày lành tháng 7 mùa thu năm Vĩnh Định sơ niên (1547), in ở bản Cựu biên Truyền kỳ mạn lục, có nói về Nguyễn Dữ và tập Truyền kỳ mạn lục như sau: “Ông thuở thiếu thời chăm học, đọc rộng nhớ lâu, những muốn lấy văn chương lập nghiệp nhà.
Ông vượt qua thi Hương, mấy lần thi đỗ trường thi Hội. Được bổ làm quan Tri huyện Thanh Tuyền, song mới được một năm, liền từ quan về nhà phụng dưỡng mẹ già, cho tròn đạo hiếu. [Từ đó] nhiều năm chân không bén đến nơi thị thành. Rồi bèn soạn nên tập truyện này, mong ngụ lòng mình trong đó.
Xem văn từ của 9 luan an ông, [thấy] không ra ngoài "rào giậu" của Tông Cát [Cù Tông Cát soạn Tiễn đăng tân thoại]. Song [trong đó] có ý khuyên răn, có lời dạy dỗ, thật có can hệ đến giáo hóa ở đời, đâu có phải là chuyện vặt vãnh chắp nhặt tầm thường”. (Nguyên văn: Thiếu cù vu học, bác lãm cường kí, dục dĩ văn chương thế kì gia, việt lĩnh Hương tiến, lũy trúng Hội thí trường. Tể vu Thanh Tuyền huyện, tài đắc nhất nẫm, từ ấp dưỡng mẫu, dĩ toàn hiếu đạo.
Túc bất [đạp] thành thị, phàm kỉ dư sương. Ư thị bút tư lục, dĩ ngụ ý yên. Quan kì văn từ bất xuất Tông Cát phiên li chi ngoại [Cù Tông Cát trước “Tiễn đăng tân thoại”]. Nhiên hữu cảnh giới giả, hữu qui châm giả, kì quan ư thế giáo, khởi tiểu bổ vân.) (Hà Thiện Hán, Tựa Truyền kỳ mạn lục) Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký “Bạch vân am tiên sinh Nguyễn công Văn Đạt phả ký” viết vào mùa đông năm Kỷ Hợi (1743), ông đã cất bút ngợi khen Truyền kỳ mạn lục là áng “thiên cổ kỳ bút”.
Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, có viết về Nguyễn Dữ như sau:“Ông người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Dữ lúc còn bé thông minh lanh lợi, xem rộng, nhớ lâu, văn chương có thể nối dõi được gia phong, thi đỗ Hương cống, thi Hội nhiều khoa trúng kì đệ tam, được bổ Tri huyện Thanh Tuyền, làm quan mới được một năm, liền lấy cớ là xa nhà, xin từ chức về nhà hầu cha mẹ. Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, sống ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị.
Về phần trứ tác có Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, lời lẽ thanh tao tươi đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” [bản dịch, Nxb KHXH, HN, 1977, tr. Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển đã dựa vào những bài thơ của các nhân vật làm ra trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục mà chép lại, tuyển vào bộ sách của ông và ghi Nguyễn Dữ là tác giả của những bài thơ ấy, tuyển 4 bài với 3 đầu đề, đó là bài số 3 bài số 5 (trong 10 bài) mà Từ Thức đề trên bức bình phong tại nơi ở của Giáng Hương trong truyện Từ Thức lấy vợ Tiên nhan đề “Làm thay Từ Thức đề ở bức bình phong trắng tại nơi ở của nàng tiên Giang Hương”, một bài trong truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa mà Kim Hoa nữ học sĩ Ngô Chi Lan (Nguyễn Hạ Huệ) đề ở núi Vệ Linh, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời, với nhan đề “Làm thay nữ học sĩ Kim Hoa đề núi Vệ Linh” và một bài trong truyện Nghiệp oan của Đào thị, với nhan đề “Mây núi, trăng núi” và ghi chú thêm “phỏng theo thơ nhà sư Vô Kỉ cùng nàng Hàn Than ngâm vịnh ở núi Vệ Kì”. 10 luan an Phan Huy Chú trong bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí đã giới thiệu sơ lược như sau: Truyền kỳ mạn lục, 4 quyển. Dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại khái bắt chước Tiễn đăng tân thoại của một nhà nho đời Nguyên.
Tập này cộng 22 truyện1. Dữ người ở Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, con trai của Tiến sĩ Tường Phiêu [Tập 4, bản dịch, trang 121]. Tình hình dịch thuật và nghiên cứu truyện truyền kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975 Về các bản Việt dịch Truyền kỳ mạn lục Bản dịch sang quốc ngữ đầu tiên là bản của Cát Thành.