Nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại: Diện mạo và đặc trưng

Tài liệu chuyên sâu Nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại: Đặc trưng và diện mạo, phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

196
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đóng góp mới của luận án

Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

1.1. Quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục

1.2. Tình hình giới thiệu, dịch thuật và đánh giá Truyền kỳ mạn lục từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

1.3. Tình hình dịch thuật và nghiên cứu truyện truyền kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975

1.4. Tình hình dịch nghiên cứu truyện truyền kỳ từ sau năm 1975 đến nay

2. CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM, TIÊU CHÍ XÁC LẬP, NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

2.1. Khái niệm Truyện truyền kỳ

2.2. Truyện truyền kỳ khu vực Đông Á và vai trò của Tiễn đăng tân thoại trong tiến trình phát triển thể loại truyền kỳ khu vực Đông Á

2.3. Quá trình hình thành và phát triển của truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

2.4. Xác lập tiêu chí truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam và phạm vi tác phẩm được khảo sát

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA TÂM LINH

3.1. Khái niệm Văn hóa tâm linh. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa Việt Nam

3.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3. Biểu hiện của yếu tố tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.4. Ý nghĩa của yếu tố tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN NGHỆ THUẬT VÀ TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI TRUYỆN TRUYỀN KỲ KHU VỰC ĐÔNG Á

4.1. Các kiểu kết cấu truyện truyền kỳ

4.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật

4.3. Nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên

4.4. Không gian và thời gian trong truyện truyền kỳ

4.5. Môtip dân gian được sử dụng trong truyện truyền kỳ

4.6. Tương đồng và dị biệt giữa truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại

Nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại là một phần quan trọng trong di sản văn hóa dân tộc. Thời kỳ này, nghệ thuật không chỉ phản ánh đời sống xã hội mà còn thể hiện tâm hồn và trí tuệ của con người Việt Nam. Nghệ thuật truyền thống trong giai đoạn này bao gồm nhiều thể loại như nghệ thuật dân gian, nghệ thuật biểu diễn, và âm nhạc truyền thống. Những tác phẩm nghệ thuật này thường mang đậm dấu ấn văn hóa và lịch sử, thể hiện sự giao thoa giữa các yếu tố văn hóa bản địa và ảnh hưởng từ bên ngoài. Đặc biệt, nghệ thuật biểu diễn như tuồng, chèo, và cải lương đã phát triển mạnh mẽ, trở thành những hình thức nghệ thuật đặc trưng của Việt Nam. Sự phát triển này không chỉ góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc mà còn tạo ra những giá trị nghệ thuật độc đáo, phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

II. Đặc trưng văn hóa trong nghệ thuật truyền thống

Đặc trưng văn hóa trong nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại thể hiện qua nhiều khía cạnh. Một trong những đặc điểm nổi bật là sự kết hợp giữa yếu tố tâm linh và nghệ thuật. Văn hóa tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tác phẩm nghệ thuật, từ những câu chuyện truyền kỳ đến các hình thức biểu diễn. Các yếu tố như tín ngưỡng thờ cúng, hình tượng nhân vật trong các tác phẩm nghệ thuật thường mang tính biểu tượng sâu sắc, phản ánh niềm tin và giá trị văn hóa của người Việt. Ngoài ra, nghệ thuật dân gian cũng thể hiện sự phong phú và đa dạng trong cách thể hiện, từ âm nhạc đến múa, từ hội hè đến các lễ hội truyền thống. Những yếu tố này không chỉ tạo nên sự phong phú cho diện mạo nghệ thuật mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

III. Diện mạo nghệ thuật và sự phát triển

Diện mạo nghệ thuật Việt Nam thời trung đại được hình thành từ nhiều yếu tố, trong đó có sự giao thoa giữa các nền văn hóa khác nhau. Nghệ thuật biểu diễn như tuồng, chèo, và cải lương không chỉ là hình thức giải trí mà còn là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa, lịch sử. Sự phát triển của nghệ thuật truyền thống trong thời kỳ này cũng phản ánh sự thay đổi trong xã hội, từ các triều đại phong kiến đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Các tác phẩm nghệ thuật thường mang tính chất phản ánh hiện thực xã hội, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Đặc biệt, nghệ thuật thù côngnghệ thuật truyền miệng đã đóng góp không nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tạo nên một bức tranh đa dạng và phong phú về nghệ thuật Việt Nam thời trung đại.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của nghệ thuật truyền thống

Giá trị của nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại không chỉ nằm ở khía cạnh nghệ thuật mà còn ở ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Những tác phẩm nghệ thuật này không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nguồn cảm hứng cho các thế hệ sau. Việc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa này có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về nguồn cội và bản sắc dân tộc. Ngoài ra, nghệ thuật truyền thống còn có thể được ứng dụng trong các hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Các lễ hội, sự kiện văn hóa được tổ chức thường xuyên không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa mà còn tạo cơ hội giao lưu, học hỏi giữa các thế hệ và các nền văn hóa khác nhau.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình dịch thuật và nghiên cứu về truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. Chương này luận án tổng thuật lại những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, là tiền đề để luận án kế thừa, từ đó bổ sung những kết quả nghiên cứu mới. Khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và tiêu chí xác lập truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam.

Chương này luận án sẽ trình bày khái niệm thể loại, chỉ ra nguồn gốc và trình bày quá trình hình thành và phát triển cùng xác lập tiêu chí của truyện truyền kỳ văn học trung đại Việt Nam. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa tâm linh. Chương này luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, như: Khái niệm văn hóa tâm linh; Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa và trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Biểu hiện và ý nghĩa của yếu tố tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam từ góc nhìn nghệ thuật và từ mối quan hệ với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á.

Chương này luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ từ góc nhìn nghệ thuật, như: Các kiểu kết cấu truyện truyền kỳ; Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật; Nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên; Không gian và thời gian trong truyện truyền kỳ; Môtip dân gian được sử dụng trong truyện truyền kỳ. Cũng trong chương này, để thấy được đặc trưng riêng của truyện truyền kỳ Việt Nam, chúng tôi 6 luan an triển khai một mục so sánh truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á với những nét tương đồng và dị biệt của nó. Cuối cùng là Kết luận. Những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, Danh mục tài liệu tham khảo.

Phụ lục: Bảng thống kê xác lập tiêu chí phân loại truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và hầu hết đều được dịch sang chữ quốc ngữ. Hiện nay, các công trình dịch truyện truyền kỳ từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ có khá nhiều. Có những công trình dịch từng tác phẩm truyện truyền kỳ, cũng có những công trình tập hợp các truyện truyền kỳ thành một tuyển tập.

Và cũng đã có nhiều công trình dịch các tác phẩm truyền kỳ của một số nước đồng văn Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Bên cạnh đó, có nhiều tiểu luận, công trình nghiên cứu các tác phẩm truyện truyền kỳ công bố trên các tạp chí hay xuất bản thành sách. Nhờ thế mà chúng tôi gặp khá nhiều thuận lợi khi triển khai đề tài luận án. Trong các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam thì tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của thể loại.

Sau đây, xin được giới thiệu quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục và tổng thuật lại tình hình sưu tầm, khắc in văn bản tác phẩm, tình hình dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ, mà trọng tâm là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục theo ba giai đoạn: từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; từ đầu thế kỷ XX đếm năm 1975 và từ sau năm 1975 đến nay như sau: 1. Quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục Nguyên tác văn bản Truyền kỳ mạn lục đã được khắc in và sao chép nhiều lần. Căn cứ vào tên gọi văn bản các lần in, có thể chia thành hai nhóm: Cựu biên Truyền kỳ mạn lục và Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Nhóm văn bản Cựu biên: hiện chỉ có một văn bản khắc in, 1 Tựa, 1 Mục lục, được khắc in vào niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 8 (1712), văn bản hiện được lưu giữ tại Đông Dương văn khố, Nhật Bản.

Nhóm văn bản Tân biên: căn cứ vào dòng ghi niên đại, hiện có 4 nhóm văn bản. * Bản Vĩnh Thịnh năm thứ 10 (1714), văn bản khắc in, hiện được lưu giữ tại Thư viện Bắc Kinh, Trung Quốc. * Bản Vĩnh Hựu năm thứ 3 (1737), văn bản khắc in, hiện được lưu giữ tại Thư viện Hiệp hội nghiên cứu châu Á, ký hiệu HM. * Bản Cảnh Hưng năm thứ 24 (1763), gồm hai dạng khắc in và chép tay.

Cụ thể như sau: 8 luan an Các bản khắc in mang ký hiệu R.1450-1453, đủ 4 quyển, 20 truyện, hiện được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội. Các bản chép tay mang ký hiệu A.3201/1-4, cũng đủ 4 quyển, 20 truyện, hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. * Bản Cảnh Hưng năm thứ 35 (1774), gồm hai dạng khắc in và chép tay, cụ thể như sau: Các bản khắc in mang ký hiệu VNv.707 (mỗi ký hiệu là một quyển), đủ 4 quyển, 20 truyện; và bản VHv.1491/1-4, cũng đủ 4 quyển, 20 truyện. Các bản này đang được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Bản mang ký hiệu HN.257-258 hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Văn học Việt Nam. Các bản chép tay cũng đầy đủ 4 quyển, 20 truyện, mang ký hiệu VNv.1840, hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngoài ra còn các bản lẻ hoặc thuộc loại khắc in như bản A.1021; hoặc thuộc loại chép tay như VHv. Tình hình giới thiệu, dịch thuật và đánh giá Truyền kỳ mạn lục từ cuối thế kỷ XIX trở về trƣớc Bản dịch đầu tiên từ chữ Hán sang chữ Nôm (có thêm phần giải âm, tập chú) của Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là bản giải âm của Nguyễn Thế Nghi vào nửa đầu thế kỷ XVI, người sống cùng thời với Nguyễn Dữ, nhan đề là Truyền kỳ mạn lục giải âm.

Từ đó, có thể nói diễn Nôm được xem như là khởi thuỷ, là thượng nguồn của văn học dịch trong lịch sử văn học nước nhà. Bản này hiện đã được vị giáo sư lão thành Nguyễn Quang Hồng ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm phiên âm sang quốc ngữ, đã xuất bản và tái bản. Nhận xét đánh giá đầu tiên về tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là Hà Thiện Hán, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ. Trong Lời Tựa, Hà Thiện Hán viết vào ngày lành tháng 7 mùa thu năm Vĩnh Định sơ niên (1547), in ở bản Cựu biên Truyền kỳ mạn lục, có nói về Nguyễn Dữ và tập Truyền kỳ mạn lục như sau: “Ông thuở thiếu thời chăm học, đọc rộng nhớ lâu, những muốn lấy văn chương lập nghiệp nhà.

Ông vượt qua thi Hương, mấy lần thi đỗ trường thi Hội. Được bổ làm quan Tri huyện Thanh Tuyền, song mới được một năm, liền từ quan về nhà phụng dưỡng mẹ già, cho tròn đạo hiếu. [Từ đó] nhiều năm chân không bén đến nơi thị thành. Rồi bèn soạn nên tập truyện này, mong ngụ lòng mình trong đó.

Xem văn từ của 9 luan an ông, [thấy] không ra ngoài "rào giậu" của Tông Cát [Cù Tông Cát soạn Tiễn đăng tân thoại]. Song [trong đó] có ý khuyên răn, có lời dạy dỗ, thật có can hệ đến giáo hóa ở đời, đâu có phải là chuyện vặt vãnh chắp nhặt tầm thường”. (Nguyên văn: Thiếu cù vu học, bác lãm cường kí, dục dĩ văn chương thế kì gia, việt lĩnh Hương tiến, lũy trúng Hội thí trường. Tể vu Thanh Tuyền huyện, tài đắc nhất nẫm, từ ấp dưỡng mẫu, dĩ toàn hiếu đạo.

Túc bất [đạp] thành thị, phàm kỉ dư sương. Ư thị bút tư lục, dĩ ngụ ý yên. Quan kì văn từ bất xuất Tông Cát phiên li chi ngoại [Cù Tông Cát trước “Tiễn đăng tân thoại”]. Nhiên hữu cảnh giới giả, hữu qui châm giả, kì quan ư thế giáo, khởi tiểu bổ vân.) (Hà Thiện Hán, Tựa Truyền kỳ mạn lục) Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký “Bạch vân am tiên sinh Nguyễn công Văn Đạt phả ký” viết vào mùa đông năm Kỷ Hợi (1743), ông đã cất bút ngợi khen Truyền kỳ mạn lục là áng “thiên cổ kỳ bút”.

Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, có viết về Nguyễn Dữ như sau:“Ông người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Dữ lúc còn bé thông minh lanh lợi, xem rộng, nhớ lâu, văn chương có thể nối dõi được gia phong, thi đỗ Hương cống, thi Hội nhiều khoa trúng kì đệ tam, được bổ Tri huyện Thanh Tuyền, làm quan mới được một năm, liền lấy cớ là xa nhà, xin từ chức về nhà hầu cha mẹ. Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, sống ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị.

Về phần trứ tác có Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, lời lẽ thanh tao tươi đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” [bản dịch, Nxb KHXH, HN, 1977, tr. Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển đã dựa vào những bài thơ của các nhân vật làm ra trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục mà chép lại, tuyển vào bộ sách của ông và ghi Nguyễn Dữ là tác giả của những bài thơ ấy, tuyển 4 bài với 3 đầu đề, đó là bài số 3 bài số 5 (trong 10 bài) mà Từ Thức đề trên bức bình phong tại nơi ở của Giáng Hương trong truyện Từ Thức lấy vợ Tiên nhan đề “Làm thay Từ Thức đề ở bức bình phong trắng tại nơi ở của nàng tiên Giang Hương”, một bài trong truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa mà Kim Hoa nữ học sĩ Ngô Chi Lan (Nguyễn Hạ Huệ) đề ở núi Vệ Linh, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời, với nhan đề “Làm thay nữ học sĩ Kim Hoa đề núi Vệ Linh” và một bài trong truyện Nghiệp oan của Đào thị, với nhan đề “Mây núi, trăng núi” và ghi chú thêm “phỏng theo thơ nhà sư Vô Kỉ cùng nàng Hàn Than ngâm vịnh ở núi Vệ Kì”. 10 luan an Phan Huy Chú trong bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí đã giới thiệu sơ lược như sau: Truyền kỳ mạn lục, 4 quyển. Dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại khái bắt chước Tiễn đăng tân thoại của một nhà nho đời Nguyên.

Tập này cộng 22 truyện1. Dữ người ở Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, con trai của Tiến sĩ Tường Phiêu [Tập 4, bản dịch, trang 121]. Tình hình dịch thuật và nghiên cứu truyện truyền kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975 Về các bản Việt dịch Truyền kỳ mạn lục Bản dịch sang quốc ngữ đầu tiên là bản của Cát Thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống Việt Nam thời trung đại: Diện mạo và đặc trưng" của tác giả Lê Dương Khắc Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Công Lý, mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật truyền thống Việt Nam trong giai đoạn trung đại. Tác phẩm không chỉ phân tích các đặc trưng nổi bật của nghệ thuật mà còn khám phá diện mạo văn hóa, xã hội và lịch sử của thời kỳ này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự phát triển và ảnh hưởng của nghệ thuật truyền thống đối với văn hóa Việt Nam hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa và nghệ thuật dân gian, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về truyện kể dân gian thần độc cước ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, nơi nghiên cứu sâu về thể loại truyện dân gian đặc sắc của vùng miền này. Ngoài ra, bài viết Khảo sát văn học dân gian của cư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quát về văn hóa dân gian trong bối cảnh khác nhau. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu văn hóa dục tính và thơ nôm Hồ Xuân Hương ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự tiếp nhận và phát triển của thơ ca truyền thống trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật và văn hóa Việt Nam.