Mở đầu là phong trào Cần vƣơng. Trung với vua là điều mà sách vở thánh hiền dạy và là điều cửa miệng của học trò. Khi kinh thành có biến, 12 z vua Hàm Nghi xuất bôn thì đây chính là lúc mà tôi con phải tỏ lòng trung, là cơ hội cho sự vận dụng những gì đã học từ sách vở vào trong thực tế. Chiếu Cần vƣơng viết bằng Hán văn đã ban ra từ 4-7-1885.
Một phong trào "Cần vương - lo cho việc của nhà vua" diễn ra rộng khắp trên các miền của đất nƣớc kéo dài đến hơn 10 năm. Lực lƣợng lãnh đạo Cần vƣơng là các văn thân yêu nƣớc. Dƣới ngọn cờ Cần vƣơng, quy mô nhất là cuộc khởi nghĩa Hƣơng Khê (1885-1895) mà chủ soái của nó là Phan Đình Phùng. Sau khi phong trào Cần vƣơng thất bại, có một lớp nhà nho yêu nƣớc mà nhiều ngƣời trong số họ từng qua cử nghiệp đỗ đạt cao đã đƣợc đón một luồng gió duy tân từ Đông Á thổi vào.
Gƣơng Nhật Bản duy tân, gƣơng Trung Hoa cách mạng giữa buổi mƣa Âu gió Mỹ qua tân thƣ, tân báo, tân văn làm họ bừng tỉnh. Họ nhận thấy nguyên nhân của mất nƣớc là sự lạc hậu, là do cái học cử nghiệp đã làm lầm lỡ bao thế hệ. Do vậy, họ chống hủ nho, kêu gọi canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Các đại diện là: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thƣợng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế.
với các phong trào: Đông Du; Duy tân; Đông Kinh nghĩa thục. Một trong những lãnh tụ nổi bật nhất của phong trào duy tân đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu. Phan Bội Châu – ngƣời chí sĩ cách mạng, ngƣời mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc coi là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, đƣợc 20 triệu con ngƣời trong vòng nô lệ tin sùng”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995) đã nói về bối cảnh của giai đoạn đó trong Văn tế Phan Châu Trinh nhƣ sau: “gió duy tân từ Đông Hải thổi vào”, “sóng cách mạng bởi châu Âu tràn tới”, “Dọc ngang trời đất, rực lửa văn minh”, “Tức tối nƣớc nhà cam đƣờng hủ bại”. Những sĩ phu yêu nƣớc mà nhiều ngƣời trong số họ đã qua vòng khoa cử, đệ tử một thời của “cửa Khổng sân Trình” đã nhận ra nguyên nhân mất 13 z nƣớc, dân tộc là ở chỗ “nƣớc nhà cam đƣờng hủ bại”. Vƣợt lên chính mình, họ đã dồn trí lực cho một cuộc đổi mới dân tộc chƣa từng có tiền lệ trong lịch sử theo lối học Tây học Đông nhƣ trƣờng hợp Phan Châu Trinh. “Cậy tân học dặn dò phƣơng tự chủ, Lƣ Thoa, Mạnh Đức so sánh ngƣời xƣa.
Mƣợn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hƣơng Cảng, Hoành Tân lỏi len đƣờng mới” nhằm “khai dân trí, chấn hƣng dân khí, thực dân tài” với một bầu máu nóng “chiêu hồn nƣớc”, “đề tỉnh quốc dân hồn”, “bảo chủng, tồn chủng” Phan Bội Châu đã đau lòng vì nƣớc mình đã bị mất nhƣng ông đau lòng hơn khi thấy đồng bào mình sống trong cảnh nƣớc mất mà lại không biết rằng nƣớc mình đã mất. Tầng lớp thức tự vẫn say mê trong vòng cử nghiệp, mê văn thánh hiền xƣa trong khi: “江山死矣生如贅賢聖寥然誦亦癡 Giang sơn tử hĩ sinh như chuế. Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si - Giang sơn đã mất, sống cũng nhục. Hiền thánh mờ xa, học cũng ngu”.
Cần phải thức tỉnh họ. Bằng lời lẽ thống thiết của một bầu máu nóng. Bức thƣ “和淚 貢言 Hòa lệ cống ngôn- Hòa lệ dâng lời” đƣợc ông viết năm Bính Ngọ (1906). Phan Bội Châu nhắc nhở cho sĩ tử “phƣờng mặt trắng” biết rằng: nƣớc đã mất 30 năm rồi.
Giống nòi 10 phần đã bị diệt đến 6, 7 phần rồi, sau đó cắt nghĩa tỉ mỉ thế nào là nƣớc mất, lúc này là lúc nào” Phan Bội Châu kêu gọi sĩ tử hãy nghĩ đến truyền thống vinh quang của tổ quốc, dân tộc mà giành lại quốc quyền, giành lấy tự do trong sự diễn đạt các đối lập xƣa nay." Xƣa sao vinh quang đến thế, nay sao nhục nhã đến thế. Đó là xƣa thì còn quốc quyền, nay thì quốc quyền đã mất. Xót thay quốc quyền mất, đau thay quốc quyền mất. Không có tự do chẳng thà chết.
Bỉ nhân xin các anh em xem xét kĩ lại. Giấy ngắn lời dài, kể sao cho xiết nỗi lòng, cúi đầu 14 z khóc chảy máu mắt, trƣớc gió bái lạy anh em. Tháng Sáu năm Bính Ngọ sau ngày đã mất nƣớc, ngƣời mặc áo tang nƣớc xin kính cáo". Những lời kêu gọi thống thiết hào hùng đó đã thức tỉnh đƣợc biết bao nhiêu ngƣời đang mê ngủ trong vòng cử nghiệp.
Họ thốt lên, "Khoa danh đã bƣớc qua rồi. Giật mình tỉnh dậy rằng thôi xin chừa" (Dƣơng Bá Trạc). Họ đã ném bút nghiên, bỏ khoa cử mà đi học thực nghiệp, ra nƣớc ngoài hỏi kinh nghiệm duy tân. Họ tham gia tranh đấu thức tỉnh đồng bào, không sợ bị bắt bớ hay đầu rơi máu chảy, khiến thực dân Pháp buộc phải cải lƣơng khoa cử, quá độ và chuyển đổi giáo dục khoa cử sang giáo dục phổ thông, cải đổi chƣơng trình học, trong đó có môn Việt sử.
Cải lương giáo dục khoa cử (1906 -1919) và môn Sử 1. Cải lương khoa cử (1906 -1919) Cải lƣơng khoa cử chữ Hán là vừa là quá độ và sự chuyển đổi giáo dục từ giáo dục khoa cử sang giáo dục phổ thông hiện đại theo qui định của Học chính Tổng qui ban hành năm 1917. Cải lƣơng giáo dục khoa cử qui định giáo dục khoa cử cũ đƣợc tổ chức lại theo 3 cấp nhƣ sau: Ấu học, Tiểu học, Trung học. ẤU HỌC do các xã thôn tự trù thiết lập để dạy những trẻ em nam và nữ, từ 6 tuổi đến 12 tuổi.
Còn những ai đứng ra mời thầy, lập trƣờng tƣ cũng cho phép. Các sĩ tử trƣờng tƣ cũng đều đƣợc tham dự sát hạch ứng thí cũng nhƣ sĩ tử trƣờng công. Các xã thôn đƣợc tự tuyển lựa giáo sƣ nhƣng cần phải có chính quyền chuẩn nhận. Các viên giáo huấn của các phủ huyện có chức vụ trong việc kiểm sát trƣờng ấu học ở hƣơng thôn.
Ở các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trƣờng Ấu học, theo qui thức của trƣờng Ấu học. Kinh phí của các trƣờng ấy do các tỉnh chi cấp. Giáo qui của trƣờng Ấu học có 2. Một là giáo qui Hán tự.
Hai là giáo qui Nam âm. Giáo qui Hán tự nhằm dạy những chữ Hán thƣờng dùng và những chữ Hán thiết dụng về cái 15 z lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý. Giáo qui Nam âm thì dạy chữ quốc ngữ và các độc bản (bài đọc) chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, lễ phép, thiên văn, địa lý và vệ sinh. Tốt nghiệp Ấu học thì đƣợc cấp văn bằng TUYỂN SINH.
Còn nhƣ phép đào tạo các giáo sƣ cho hệ Ấu học thì ở tỉnh lỵ của các tỉnh có thiết lập một trƣờng quốc ngữ để dạy cho các hƣơng sự không biết chữ quốc ngữ. TIỂU HỌC do các phủ huyện thiết lập. Tiểu học thu nhận những ngƣời dƣới 27 tuổi. Giáo qui của trƣờng Tiểu học có 2.
Một là giáo qui Hán tự. Hai là giáo qui Nam âm. Giáo qui chữ Hán để dạy các môn luân lý, văn chƣơng, Bắc sử, Nam sử. Các môn này do giáo thụ, huấn đạo giảng giáo.
Giáo qui Nam âm để dạy các thƣ tịch về lịch sử thế giới, địa lý và cách trí, toán học cho đƣợc tiện. Hoặc dạy cả thêm chữ Pháp. Giáo qui Nam âm ấy nếu nhƣ các viên giáo thụ huấn đạo không có thể dạy cả đƣợc thì có sự trợ giúp của các giáo sƣ các trƣờng Pháp-Việt. Quan Đốc học của các tỉnh có trách nhiệm kiểm sát các trƣờng Tiểu học.
Học xong chƣơng trình Tiểu học thì quan Đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học. Ai trúng tuyển sẽ đƣợc nhận văn bằng KHOÁ SINH. TRUNG HỌC thiết lập ở tỉnh lỵ (tức trƣờng của quan Đốc học) thu nhận những ngƣời tuổi dƣới 30. Giáo qui của trƣờng có 2 loại: Một là giáo qui chữ Hán.
Hai là giáo qui Nam âm và giáo qui chữ Pháp. Chữ Hán thì dạy theo các văn bản thƣ tịch chữ Hán tƣơng đối cao và thể thức các hạng công văn. Nam âm thì dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lý và cách trí tân thời, toán pháp và tập làm văn chƣơng chữ quốc ngữ. Chữ Pháp thì dạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng.
Sau khi hoàn thành chƣơng trình trung học, tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp, lấy văn bằng THÍ SINH. 16 z Duy Tân năm đầu (1908), thiết lập HỌC BỘ từ Ty Tân Hƣng để chuyên nắm về sự vụ giáo dục. Duy Tân năm thứ hai (1909), chọn Hội đồng Sở tu thƣ để lần lƣợt biên tập các sách giáo khoa Tiểu học, Trung học. Duy Tân năm thứ ba (1910) lại thƣơng định phƣơng pháp thiết lập trƣờng thi Hƣơng và xác định tƣ cách các giáo sƣ.
Duy Tân năm thứ tám (1915) lại nghĩ lập các khoản về chƣơng trình Ấu học (Phạm Văn Khoái (2010), Khoa thi tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ 4, 1919), Nxb ĐHQG, Hà Nội) Cải lƣơng giáo dục khoa cử tuy do chính quyền thực dân phong kiến thực hiện nhƣng điều này lại diễn ra dƣới áp lực đấu tranh của nhân dân ta mà những chí sĩ yêu nƣớc từng qua vòng cử nghiệp, chí sĩ duy tân là những ngƣời đi tiên phong. Khi cải lƣơng giáo dục khoa cử đƣợc vận hành, chính những sĩ phu yêu nƣớc ấy lại đi đầu trong cuộc mở mang học vấn đƣợc diễn đạt bằng cách nói nhƣ “khai dân trí”, “chấn hƣng dân khí”, “thực dân tài”. Đông kinh Nghĩa thục, ra đời vào năm 1907 chính là một trƣờng của các chí sĩ cách mạng cho mục đích cao cả đó. Môn Sử trong chương trình cải lương khoa cử (1906 -1919) Môn Sử trong chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử (1906-1919) bao gồm: Viêt sử, Bắc sử, Thái Tây sử.
Dƣới đây là một số sách cho môn Sử theo Di sản Hán Nôm Việt Nam-Thư mục đề yếu. Hình Niên thức STT Tên sách Tình trạng văn bản Tác giả đại thể hiện I BẮC SỬ 6 bản in (2 Q) 1 mục lục, 1 Liễu Giang cƣ Văn TÂN SAN tổng luận. sĩ biên tập, Liễu xuôi TOÀN Lịch sử Trung Quốc từ Tam Văn Đƣờng, Hà BIÊN 北 Hoàng, Ngũ Đế đến Thanh Nội in năm Duy Quang Tự (1875- Tân 3 (1909). 史新刊全 1908).
Sách này đƣợc Hội đồng học vụ Bắc Kì duyệt 17 z 編 làm sách giáo khoa lịch sử bậc tiểu học.