Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Nhận diện hành hương Phật giáo chùa Hương hiện nay Chương 3: Hành hương Phật giáo chùa Hương: Khía cạnh kết nối mạng lưới xã hội Chương 4: Hành Hương Phật giáo chùa Hương: Khía cạnh kinh tế Chương 5: Hành hương Phật giáo trong đời sống xã hội đương đại và những vấn đề đặt ra 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về hành hương và hành hương tôn giáo Hành hương là một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong nước và nước ngoài, trong đó có các nhà nhân học. Nhiều nhà nhân học nước ngoài đã nghiên cứu về các trung tâm hành hương - điểm đến của các đoàn hành hương, hành hương được nhìn nhận như những chuyến du hành nhiều cảm xúc gắn với địa điểm hành hương, cộng đồng hành hương, mục đích hành hương.
Bên cạnh đó, những nghiên cứu này cũng quan tâm đến thái độ của người dân, giới tính người hành hương, bối cảnh chính trị, việc quản lý hoạt động hành hương, sự kết nối giữa du lịch với hành hương… Đó là những nghiên cứu đáng chú ý sau: Jill Dubisch, Pilgrimage, gender, and politics at a greek island shrine [hành hương, giới tính, và chính trị tại một ngôi đền hòn đảo Hy Lạp] (1995) [117], Nigel D. Morpeth, Religious Tourism and pilgrimage festivals management An International Perspective [Du lịch tôn giáo và quản lý lễ hội hành hương – Một viễn cảnh quốc tế] (2008) [118]; Badone, Ellen and Sharon R. Roseman, “Approaches to the Anthropology of Pilgrimage and Tourism” in: Intersecting Journeys: The Anthropology of Pilgrimage and Tourism [Tiếp cận nhân học về hành hương và du lịch, trong Hành trình kết nối: Hành hương và du lịch] (2004) [112], Cohen, Erik “Pilgrimage and Tourism: Convergence and Divergence” in: Sacred Journeys: The Anthropology of Pilgrimage. Alan Morinis, ed.
Philip Taylor, Goddess on the rise- Pilgrimage and popular religion in Việt Nam [Sự phát triển tục thờ nữ thần và hành hương tôn giáo phổ biến ở Việt Nam] (2004) [122]… Trong đó, tác giả Philip Taylor5 (2004) trong công trình Goddess on the rise-Pilgrimage and popular religion in Việt Nam [Sự phát triển tục thờ nữ thần và hành hương tôn giáo phổ biến 5 Tác giả là tiến sĩ nhân học thuộc Viện Nghiên cứu Thái Bình Dương và châu Á, Đại học Quốc gia Australia (ANU), từng nghiên cứu điền dã nhiều năm tại đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam đã được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam (Journal of Vietnamese Studies). 10 luan an ở Việt Nam] (2004) [122] đã đề cập đến các mối quan hệ giữa tôn giáo/thực hành tôn giáo và điều kiện kinh tế qua việc hành hương về miếu Bà Chúa Xứ. Qua những trải nghiệm và phân tích, học giả này đã kết nối hành hương Bà Chúa Xứ với những tín ngưỡng như thờ các anh hùng dân tộc, thờ nữ thần, thờ mẫu ở Việt Nam.
Theo tác giả hiện tượng này phản ánh sự thay đổi kinh tế, chính trị xã hội ở Việt Nam từ sau đổi mới (1986). Hành hương về miếu Bà Chúa Xứ là một phần trong sự hồi sinh các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, một ví dụ cho việc thờ nữ thần ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn của xã hội. Bên cạnh đó tác giả nghiên cứu về địa điểm hành hương, nhóm, đoàn hành hương, mục đích hành hương gắn với bối cảnh tộc người, kinh tế và du lịch. Qua nghiên cứu này, tác giả cho thấy sự quan tâm của hành hương tới các tập tục tôn giáo sinh ra và như một phương thức để con người tìm cách đương đầu với những khủng hoảng phát sinh từ phương thức kinh tế mới.
Xét ở khía cạnh người hành hương, tác giả cũng đã chia sẻ tâm thức người hành hương và phân tích thái độ của người dân trong vùng Nam Bộ với việc phụng thờ Bà chúa Xứ để từ đó xác định sự biến đổi của tín ngưỡng trong đời sống xã hội hôm nay. Một số công trình nghiên cứu khẳng định các truyền thống tôn giáo, các giáo phái được nhận diện thông qua hành hương trong những cuộc tọa đàm lớn về tôn giáo. Một quan niệm phổ biến cho rằng hành hương đến những trung tâm tôn giáo, nơi tạo nên tính thiêng được hiểu như một công cụ hấp dẫn việc hành hương. Hành hương và hành hương tôn giáo như một hành trình có tính chất gắn kết cộng đồng với nhau và khẳng định bản sắc dân tộc, qua đó đề cao những địa điểm tôn giáo điển hình.
Ví như trong nghiên cứu của Reader, Ian. “Introduction” in: Pilgrimage in Popular Culture [“Giới thiệu” trong: Hành hương trong văn hóa đại chúng] cho rằng ở một số tôn giáo như Hồi giáo, hành hương là giáo lý cơ bản của đức tin và được coi là nghĩa vụ tôn giáo, điển hình như việc hành hương về thánh địa Mecca (vào tháng cuối cùng của năm), trong khuôn khổ của văn hóa địa phương người dân theo đạo Hồi đã phát triển hành hương tự nguyện và các trung tâm hành hương cho nhiều dân tộc, giáo phái và các vùng nội địa. Nhiều người tập trung ở những nơi có sự gắn kết tới các thánh chiến và nghĩa sĩ: địa danh tử đạo của Hussain ở Karbala, I-Rắc là một trung tâm hành hương chính của những người Hồi giáo Shiite trong khi mộ của các thánh đã có ở khắp các nơi trong thế giới Hồi giáo. 11 luan an Tác giả này đã ví Glastonbury như là một trung tâm, một vùng đất thiêng thu hút một số lượng khách hành hương của nhiều giáo phái và giáo hội.
Glastonbury trở nên có ý nghĩa vì sự kết nối tôn giáo, hay sự gắn liền với huyền thoại về vua Arthur, cuộc săn tìm Chén thánh Holy Granil, sự bình yên trong bí thuật để thiền định tốt… (1993) [121; tr. Nghiên cứu của Eade, John và Michael Sallnow, “Introduction” in: Contesting the Sacred: The Anthropology of Christian Pilgrimage [“Giới thiệu” trong: Tranh cãi về tính thiêng: Nhân học về hành hương Công giáo] (1991) [114] cũng cho rằng hành hương được xem như là “một đấu trường cho các cuộc đàm đạo về tôn giáo và thế tục” và đó cũng là mục đích của những cuộc hành hương. Tác giả cũng quan tâm phân tích một trong nhiều khía cạnh để đàm luận trong chủ đề hành hương đó là trải nghiệm về sự cộng cảm được sinh ra ở một số thời điểm giữa những người hành hương. Trong nghiên cứu của Victor và Edith Turner (1978), Image and Pilgrimage in Christian Culture: Anthropological Perspective [Hình ảnh và hành hương trong văn hóa Kitô giáo: Quan điểm nhân học] mang tính phản cấu trúc, thể hiện rõ quan điểm coi việc hành hương là tạo một trật tự xã hội, liên kết cấu trúc xã hội tạm thời dựa trên lý tưởng của cộng đồng người hành hương.
Cuốn sách không chứng minh cho một lý thuyết lịch sử mà đưa ra thông tin về sự vay mượn và biểu tượng văn hóa, ví như việc làm thế nào để một tôn giáo như Kitô giáo có thể tồn tại và phát triển được ở Mexico khi nó nhận được sự phản ứng đa chiều của người dân Ấn Độ về vấn đề này. Tác giả nghiên cứu về sự phát triển của hành hương từ sự tưởng tượng tới việc trở thành thói quen sinh hoạt thường ngày, từ sự phản cấu trúc tới cấu trúc và các chiều kích có thể nhận thức rõ được (so sánh của V. Turner 1974a:275-94) thể hiện sự liên kết xã hội, sự thay đổi khi hệ thống hành hương trở nên phức tạp hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra rằng “Đức tin” thường được sử dụng cho các mục đích chính trị và kinh tế, hành hương giống như viên đá nam châm của văn hóa, thu hút nhiều loại biểu tượng bằng lời và không bằng lời, đa nghĩa và đơn nghĩa.
Mục đích của tác giả là khám phá sự thay đổi của hệ thống biểu tượng trong mối quan hệ với hệ thống hành hương và làm rõ ảnh hưởng của chúng tới cá nhân hoặc tập thể những người hành hương. 12 luan an Nghiên cứu của Reader, Ian. “Introduction” in: Pilgrimage in Popular Culture [“Giới thiệu” trong: Hành hương trong văn hóa đại chúng] đã đưa ra các quan niệm khác nhau về hành hương của các nhà nghiên cứu, trong đó có quan niệm của Victor và Edith Turner‟s cho rằng “nếu người hành hương là một du khách, thì một khách du lịch cũng sẽ là một người hành hương”. Điều đó ám chỉ mối quan hệ mật thiết giữa khách du lịch và người hành hương, những người hành hương này đều cùng chung một mục đích là đều muốn bước ra khỏi thế giới riêng để cùng nhau tìm hiểu sự mới lạ, phong phú cho cuộc sống của họ (1993) [121; tr.
Bên cạnh đó, một số nhà nhân học khác tập trung chủ yếu vào việc mô tả các trung tâm hành hương hoặc các địa điểm thiêng. Nhìn chung, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào các tu sĩ, sự tổ chức các trung tâm hành hương và những người tới trung tâm hành hương; nói cách khác, các nghiên cứu này hướng về các địa điểm thiêng hơn là tập trung vào người hành hương. Ví dụ như các tài liệu về hành hương ở Nam Á nhìn chung ủng hộ cho các quan điểm hành hương ý nghĩa như những cuộc đàm đạo về tôn giáo và thế tục hơn là cách tiếp cận của Turner về hành hương. Đa số các nghiên cứu học thuật về hành hương ở Nam Á đều tập trung vào lĩnh vực tôn giáo một cách rõ ràng, các truyền thống tôn giáo lớn và về các giáo phái hành hương địa phương.
Các nghiên cứu này ít chú trọng tới hành hương trong các bối cảnh thế tục hóa, phát triển quanh các trung tâm hành hương ví như tính chính trị, chủ nghĩa dân tộc, tính cách sắc tộc, giới tính, các điểm hành hương gắn với các anh hùng văn hóa, các khía cạnh về du lịch của hành hương, các chuyến đi mang tính giáo dục tới các di tích lịch sử và các vùng đất thiêng, hoặc đơn giản là các chuyến đi hành hương để tìm kiếm niềm vui cá nhân. Về mặt lý thuyết, có thể ví dụ một nghiên cứu nhân học về hành hương ở Sri Lanka từ cách tiếp cận theo chức năng luận (Obeyesekere, 1966, 1978, 1981; Evers, 1972; Seneviratne, 1978).