Phần Mở đầu, phần Nội dung chính và phần Kết luận. Riêng phần Nội dung chính, chúng tôi chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác vận động chức sắc Phật giáo ở Bắc Ninh hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay và những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm. Chƣơng 3: Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh và giải pháp, khuyến nghị.
11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 1. Lý luận chung về công tác vận động chức sắc Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 1. Một số khái niệm * Khái niệm chức sắc theo quy định của pháp luật Theo Luật tín ngƣỡng, tôn giáo: “Chức sắc là tín đồ được t chức tôn giáo phong ph m hoặc suy cử để giữ ph m vị trong t chức” [4, tr. Theo đó, chức sắc tôn giáo cần hội đủ 3 yếu tố: Một là, chức sắc trƣớc hết phải là tín đồ của một tôn giáo - là loại “tín đồ đặc biệt”.
Hai là, họ phải là ngƣời có chức vụ nhất định trong tổ chức tôn giáo. Bởi vì, tổ chức tôn giáo chính là nền “hành chính đạo”, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động tôn giáo và gắn với đó là những vị trí cao thấp khác nhau (chức vụ) do m i ngƣời đảm trách. Ba là, họ còn phải có phẩm sắc (phẩm trật) tôn giáo, đƣợc tổ chức tôn giáo suy tôn, thừa nhận và cho hƣởng theo giáo lý, giáo luật chiểu theo công trạng, công lao tu tập, đạo hạnh, thời gian tu tập và cống hiến của họ cho tôn giáo đó. Vì thế, khái niệm chức sắc tôn giáo nhƣ trên mới xuất phát từ phƣơng diện quản lý nhà nƣớc đối với tôn giáo hiện nay ở nƣớc ta, chƣa đáp ứng đƣợc với công tác tôn giáo nói chung và nhận thức về tôn giáo.
Mặt khác, bản thân m i tôn giáo lại có những quy định cụ thể về chức sắc của mình. Với khái niệm này, nội hàm của khái niệm chức sắc tôn giáo không chỉ bao gồm những ngƣời có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những ngƣời có trọng trách trong hành đạo và truyền đạo. Truyền đạo là bổn phận của mọi tín đồ, nhƣng với tín đồ không đƣợc đào tạo, không phải là nhà hoạt động tôn giáo 12 chuyên nghiệp và bán chuyên thì những ngƣời tín đồ bình thƣờng không thể có khả năng lớn nhƣ chức sắc của họ. Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo chính là những đối tƣợng đặc biệt quan trọng mà công tác tôn giáo phải có sự quan tâm thƣờng xuyên.
Điều đó lý giải tại sao các cơ quan làm công tác tôn giáo khi nói đến chức sắc tôn giáo thƣờng bao gồm cả chức việc tôn giáo và các nhà tu hành. * Khái niệm chức sắc Phật giáo theo quy định của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Giáo hội Phật giáo Việt Nam Theo Nội quy Ban Tăng sự trung ƣơng khóa VIII (nhiệm kỳ 2017 - 2022) gồm 15 chƣơng, 85 điều, trong đó quy định về chức sắc trong giáo hội nhƣ sau: Hàng Giáo phẩm (chức sắc) bao gồm: Giáo phẩm Tăng: Hòa thƣợng, Thƣợng tọa. Giáo phẩm Ni: Ni trƣởng, Ni sƣ. Hàng giáo phẩm đƣợc suy tôn tại các kỳ Đại hội Phật giáo.[40] - Chức sắc trong Hội đồng chứng minh Hội đồng chứng minh là cơ quan lãnh đạo tối cao về đạo pháp và giới luật của Giáo hội, gồm các vị Hòa thƣợng tiêu biểu của của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; có ít nhất 70 tuổi đời và 50 tuổi đạo; đƣợc Ban Thƣờng trực Hội đồng Chứng minh tiền nhiệm giới thiệu và Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy tôn.
Các vị Hòa thƣợng đƣợc suy tôn vào Hội đồng chứng minh thì không tham gia Hội đồng Trị sự, ngoại trừ một số trƣờng hợp đặc biệt do Ban Thƣờng trực Hội đồng Trị sự đề nghị. Một trong số nhiệm vụ của Ban thƣờng trực Hội đồng chứng minh đối với chức sắc là: Phê chuẩn tấn phong Giáo phẩm Hòa thƣợng, Thƣợng Tọa, Ni trƣởng, Ni sƣ của GHPGVN, nghĩa là tấn phong các vị chức sắc - Điều kiện để được tấn phong hàng giáo phẩm Điều 53: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam phê chuẩn danh sách tấn phong hàng Giáo phẩm Hòa thƣợng đối với Thƣợng tọa tuổi đời từ 60 tuổi trở 13 lên, tuổi đạo từ 40 hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp và Dân tộc, có đóng góp cho Giáo hội và đăng ký với cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Điều 54: Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam xem xét tấn phong Giáo phẩm Thƣợng tọa đối với Đại đức có tuổi đời từ 45 tuổi trở lên, tuổi đạo từ 25 hạ lạp trở lên, có đạo hạnh tốt, có công đức với Đạo pháp và Dân tộc, có đóng góp cho Giáo hội và đăng ký với cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Điều 55: Hàng giáo phẩm của Ni giới là Ni trƣởng và Ni sƣ.
Tiêu chuẩn và điều kiện tấn phong giáo phẩm cúa Ni giới nhƣ quy định của hàng Tăng giới ở điều 53, 54 Hiến chƣơng [25]. Ngoài ra giáo hội còn có trường hợp đặc cách tấn phong Giáo ph m với những trường hợp đặc biệt. - Chức sắc trong Hội đồng trị sự Hội đồng trị sự là cơ quan điều hành, quản lý hành chính cao nhất của Giáo hội về mọi mặt hoạt động giữa hai nhiệm kỳ. Đối với hoạt động của chức sắc chức việc có chức năng, nhiệm vụ sau: + Quyết định bổ nhiệm chủ trì các cơ sở do Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp trung ƣơng và cấp tỉnh thành, quản lý trên cơ sở tham khảo ý kiến với hệ phái, sơn môn (nếu có liên hệ) và cơ quan có thẩm quyền.
+ Giới thiệu Tăng Ni, Cƣ sĩ Phật tử tham gia các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội. + Phê chuẩn kế hoạch, chƣơng trình hoạt động Phật sự của Ban, Viện Trung ƣơng, Văn phòng Trung ƣơng Giáo hội, các tổ chức cơ sở và thành viên trực thuộc Trung ƣơng Giáo hội và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh. Đề nghị Ban thƣờng trực Hội đồng chứng minh tấn phong trƣớc kỳ hạn trong trƣờng hợp đặc biệt cần thiết đối với nhân sự bổ sung vào các chức vụ bị khuyết thuộc thẩm quyền suy cử của Hội đồng trị sự. Tổng hợp ý kiến của 14 chƣ Tăng Ni, cƣ sĩ Phật tử thành viên Giáo hội Phật Giáo Việt Nam để phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền về chủ trƣơng, chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động tôn giáo.
Thành viên Hội đồng Trị sự, gồm Hòa thƣợng, Thƣợng tọa, Ni sƣ; Đại đức Tăng Ni và Cƣ sĩ phật tử tiêu biểu có nhiều thành tích đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc (điều 20). Thành viên tham gia Hội đồng Trị sự không quá 80 tuổi và không kiêm nhiệm quá 2 chức danh trong Ban Thƣờng trực HĐTS, m i chức danh không quá 3 nhiệm kỳ[25]. Nhƣ vậy, chỉ có chức sắc mới là thành viên của Hội đồng chứng minh, còn Hội đồng Trị sự có cả 3 thành phần: chức sắc chức việc, nhà tu hành và cƣ sĩ Phật tử. * Khái niệm công tác vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo Trong Từ điển tiếng Việt, “vận động” đƣợc định nghĩa là tuyên truyền, giải thích nhằm thuyết phục ngƣời khác tự nguyện làm việc gì đó, nhƣ vận động nhân dân ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ, vận động đồng bào dân tộc xóa bỏ phong tục lạc hậu, vận động tranh cử.
Có thể hiểu vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng là tuyên truyền, giải thích nhằm thuyết phục chức sắc, tín đồ Phật giáo thực hiện chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phƣơng; tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nƣớc, sống “tốt đời, đẹp đạo”; hợp tác và tham gia cùng chính quyền giải quyết các vụ việc phức tạp nảy sinh trong thực tiễn quản lý hoạt động tôn giáo. * Nhận thức về chủ thể vận động và đối tượng vận động - Chủ thể vận động – hệ thống chính trị của tỉnh Bắc Ninh Một là, về tổ chức, bộ máy, bao gồm các cấp ủy đảng, chính quyền, ban ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội; các thiết chế, trang thiết bị, điều kiện, phƣơng tiện làm việc; quy trình đảm bảo công tác vận động chức sắc tôn giáo. 15 Hai là, về đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên làm công tác vận động quần chúng, vận động chức sắc tôn giáo nói chung và vận động chức sắc Phật giáo đƣợc củng cố, kiện toàn đủ về số lƣợng, chất lƣợng, ngày càng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Việc phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng, đã góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh.
Đây là những cán bộ trong hệ thống chính trị, am hiểu về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nƣớc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt. Các tổ chức cơ sở Đảng xây dựng kế hoạch phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo tại nơi cƣ trú và triển khai công tác này đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân thông qua các đợt sinh hoạt chi bộ định kỳ, phổ biến một cách đầy đủ đến nhân dân. Hàng năm, các cấp ủy thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện việc đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng và công tác vận động chức sắc Phật giáo ở cơ sở thông qua việc kiểm tra hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng về lãnh đạo công tác vận động quần chúng, công tác tôn giáo, xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh, xem đây là một trong các tiêu chí để đánh giá phân tích chất lƣợng tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể và đảng viên.