phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 8 tiết. Chương |: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn từ thiện xã hội của Phật giáo Nam tông Khmer. Chương 2: Thực trạng từ thiện xã hội của Phật giáo Nam tông Khmer huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang hiện nay. Chương 3: Một số vẫn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả từ thiện xã hội của Phật giáo Nam tông Khmer.
10 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE TU THIEN XA HOI CUA PHAT GIAO NAM TONG KHMER 1. Khái niệm về từ thiện xã hội; chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các tôn giáo tham gia từ thiện xã hội 1. Khái niệm từ thiện xã hột và hoạt động từ thiện xã hội Quyền Dai từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ va Văn hóa Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên), do nhà xuất bản Văn hóa và Thông tin xuất bản năm 1999, “Từ thiện có nghĩa là có lòng lành, hay thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó, khổ đau dé làm phúc” và “hoạt động là làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [50]. Sách từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 (do Hoàng Phê chủ biên) giải thích: “Từ thiện: (người có của) có lòng thương người, sẵn sang giúp đỡ người nghèo khó dé làm phúc” [31].
Quyên sách từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Hoàng Phê chủ biên), Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2008 định nghĩa “Từ thiện là có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc”. Khi nhắc đến “hoạt động”, theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (Nguyễn Như Ý chủ biên), do nhà xuất bản Văn hóa và Thông tin xuất bản năm 1999, có nghĩa là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [50]. Trong sách từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Hoàng Phê chủ biên), Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2008 định nghĩa: “Hoạt 11 động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” [32]. Khái niệm “hoạt động xã hội” là tat cả những hành động của các tô chức, cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội nhằm đem lại quyền và lợi ích hợp pháp cho xã hội nói chung, con người nói riêng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội, đem lại cho con người cuộc sống ngày càng hạnh phúc, tươi đẹp hon [51].
Nghiên cứu khái niệm “xã hội” thì các từ điển trên giải thích “Xã hội là một tập thé hay nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác được các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thé chế và có cùng văn hóa” [32]. Từ đó, chúng ta có thê hiểu răng: từ thiện xã hội là những việc làm, hành động tốt đẹp hướng đến cá nhân hoặc cộng động xã hội nhằm giúp đỡ những người nghèo khổ dé làm phúc. Diễn nghĩa “từ” là lòng thương, sự hiền lành. “thiện” là điều tốt.
Từ thiện theo nghĩa thông thường là lòng thương yêu, muốn làm điều tốt cho người khác. Tiếng Anh/ Pháp: Charity/ Charité, có gốc Latin là Caritas, Carus nghĩa là tình thương quảng đại. Vì vậy, từ thiện được hiểu theo nghĩa là sự giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, thường được hiểu là một hệ thong biéu tang tién bac, thức ăn, giúp đỡ những người dang cần giúp đỡ vì họ đang bệnh hoạn, nghèo khổ, không nơi nương tựa. Trong ý nghĩa này, từ thiện là sự thể hiện của Từ bị, Bác ái.
Từ bị, Bác ái không chỉ có nghĩa là thương yêu chúng sinh mà còn có nghĩa là thể hiện lòng thương yêu ấy bằng hành động, bằng việc làm cụ thé, tức là từ thiện. Vậy từ thiện hay Thiện tâm xuất phát từ Từ bị, Bác ái là tướng của cái thể Từ bi, Bác ái; trong ý nghĩa sâu xa là Thiện tâm. 12 Từ thiện được chuyền theo nghĩa là sự giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, thường được hiểu là một hệ thống biếu tặng tiền bạc, thức ăn, giúp đỡ những người dang cần giúp đỡ vì họ đang bệnh hoạn, nghèo khổ, không nơi nương tựa. Trong ý nghĩa này, từ thiện là sự thể hiện của Từ bi.
Từ bi không chỉ có nghĩa là thương yêu chúng sinh mà còn có nghĩa là thể hiện lòng thương yêu ấy bằng hành động, bằng việc làm cụ thể, tức là từ thiện. Vậy từ thiện hay Thiện tâm xuất phát từ Từ bi, là tướng của cái thé Từ bi; trong ý nghĩa sâu xa là Thiện tâm. Công tác từ thiện xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp thực tế vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro vả tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh than cho nhân dân. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội có bản chat xã hội sâu sắc gắn kết hữu cơ giữa quyên lợi và trách nhiệm của mỗi người với mỗi đơn vị, cộng đồng và toàn xã hội.
Phúc lợi xã hội, là những biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “that bại”, khiếm khuyết của thị trường. Ban chat của phúc lợi xã hội là làm giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thê thụ hưởng những cái “chung” của xã hội. Hoạt động từ thiện xã hội được hiểu là việc tiến hành những việc làm tốt đẹp hướng đến các cá nhân và tập thé trong cộng đồng xã hội nhằm giúp đỡ những người gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Đối tượng của hoạt động từ thiện xã hội là những người có hoàn cảnh khó khăn, khiếm khuyết về trí tuệ hoặc thé chat, nghẻo đói, neo đơn, bệnh tật, hoặc các nạn nhân thiên tai, những người mac các căn bệnh xã hội như mại dâm, nghiện ma túy, HIV/AIDS.
13 Nguồn lực dé thực hiện hoạt động từ thiện xã hội là nguồn đóng góp của các tổ chức và cá nhân có lòng hảo tâm chia sẻ những khó khăn cho những người bat hạnh. Trên thế giới có rất nhiều tổ chức từ thiện xã hội, dưới đây là một số tô chức từ thiện xã hội đang hoạt động tại Việt Nam như: Phong trào Chữ thập đỏ -Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức từ thiện lớn nhất thế giới, thường được gọi là Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự. Tổ chức trên được thành lập ngày 29/10/1863 tại Geneve (Thụy S¥) gồm Ủy ban Chữ Thập đỏ quốc tế ở Geneve, Hiệp hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ và 183 Hội Chữ thập đỏ và Trăng liềm đỏ quốc gia; có hơn 115 triệu tình nguyện viên. Tổ chức này hoạt động ở Việt Nam từ ngày 23/11/1946, có trụ sở tại 82, Nguyễn Du, Hà Nội.
Quỹ Phẫu thuật Nụ cười (Operation Smile) là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động trên lĩnh vực y tế, sức khỏe con người. Tổ chức này thành lập vào năm 1982, trụ sở tại Norfolk, Virginia (Hoa Kỳ); mục tiêu hoạt động là tiến hành các ca phau thuật bị sứt môi và hở hàm ếch cho trẻ em trên toàn thế giới, đồng thời giúp trang bị cho các nước năng lực cần thiết để tiến hành các ca phau thuật này. Quy Phẫu thuật Nụ cười hoạt động tại Việt Nam từ năm 1989, có trụ sở tai 16, Ngô Quyền, Hà Nội. Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations Children’s Fund) là một quỹ cứu tế do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thành lập ngày 11/12/1946, Quỹ này hoạt động tại Việt Nam vào năm 1975, có tru sở tại 81A Trần Quốc Toản, Hà Nội.
Đối với các tổ chức từ thiện xã hội trong các tôn giáo, đây là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc liên kết, chắp nối để hoạt động từ thiện xã hội các tôn giáo trong đó có Phật giáo và Công giáo được tiến hành rộng khắp, mang lại hiệu quả cao và quy mô lớn. Đây là một tập thé xã hội tôn 14 giáo làm việc tự nguyện, mang thiết chế phi chính phủ, hoạt động với mục đích là giúp đỡ mọi người khó khăn trong xã hội. Hoạt động của các tô chức này gồm có vận động gây quỹ, chuyền trợ giúp băng hiện vật và tiền đến các đối tượng cần trợ giúp, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, tạo việc làm trợ giúp khân cấp và các hoạt động góp phần an sinh xã hội ở địa phương thường được sự giúp đỡ của GHPG, GHCG và Hội Chữ thập đỏ ở Việt Nam. Chủ trương của Đảng, chính sách Nhà nước về tôn giáo tham gia từ thiện xã hội 1.
Chủ trương, chính sách về xã hội hóa công tác xã hội - Chủ trương của Đảng về xã hội hóa công tác xã hội Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, xã hội hóa là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn dé xã hội. Quan điểm này được nêu cụ thé tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) là: “Đa dạng hóa các hình thức chăm sóc sức khỏe trong đó y tế Nhà nước là chủ đạo”. Đây là lần đầu tiên có một nghị quyết Trung ương dé cập đến van dé xã hóa công tác y tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các tổ chức tôn giáo chưa tham gia nhiều vào lĩnh vực xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe, y tế bởi chưa có những hành lang pháp lý cụ thé rõ ràng trong lĩnh vực y tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Dang (1996), xã hội hóa trở thành một trong những quan điểm lớn dé thực thi các chính sách xã hội và thuật ngữ “xã hội hóa” được chính thức đưa vào văn kiện: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tỉnh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những van dé xã hội” [8]. Đến Nghị quyết Đại hội IX (2011) của Đảng tiếp tục khăng định: “Các chính 15 sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, dé cao trách nhiệm của chính quyên các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”.