Chương 1: Lược sử thành phố Da Lat và Phật giáo thành phố Da Lạt. Khái quát chung điều kiện tự nhiên, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng thành phố Đà Lạt. Khái lược về địa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu tại thành phố Đà Lạt. Đà Lạt hiện nay là một thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng, năm trên cao nguyên Lâm Viên ở độ cao 1500m so với mực nước biển, có diện tích tự nhiên là 394,64 km?! bao phủ bởi các đỉnh núi và dãy núi liên tiếp.
Vị trí của Da Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang ở phía Bắc Lâm Đồng, giáp huyện Lạc Dương về phía Bắc, huyện Đơn Dương về phía Đông và Đông Nam, cùng với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng về phía Tây và Tây Nam. Trước đây, cao nguyên này là nơi sinh sông của người K°ho? trong hang trăm năm. Phía Bắc và Tây Bắc của Đà Lạt được giới hạn bởi dãy núi Chorơmui và Yộ Đa Myut (1.816m), Tây Bắc liên kết với chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921m) trong quần sơn Lang Biang, và đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1. Phía Đông của Đà Lạt dốc xuống cao nguyên Dran với chân dãy núi Bi Doup (2.278m), trong khi phía Đông Nam được bao bọc bởi dãy Cho Proline (1.
Phía Nam và Tay Nam giáp với dãy núi Voi (1.754m) va Yang Soreng. Khí hậu Da Lat mang trong mình nhiều đặc điểm của miền ôn đới do tác động của độ cao và rừng thông phủ. Nhiệt độ trung bình ở Đà Lạt dao động từ 18 đến 21 độ C và chưa bao giờ vượt quá 30 độ C, cũng như không xuống thấp hơn 5 độ C tính đến hiện nay. Thành phố có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4.
Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều và đôi khi có mưa đá. Lượng mưa trung bình năm là 1562 mm và độ âm trung bình là 82%. Thành ! Tran Sỹ Thứ; nhiều tác giả (2008), Dia chí Đà Lat, Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Tổng hợp Thành phố Hỗ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr.
? Ở Đà Lạt, người Cơ Ho (còn viết Coho, Kơho, K’Ho, Côhô,.), một trong những cư dân bản địa Lâm Đồng, có ba nhóm tộc người: Chil, Srê và Lạch.Tiếng Cơ Ho rất gần gũi với các ngôn ngữ. Mnông, Stiéng, Mạ,. thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Ba Na dòng Môn- Khmer, ngữ hệ Nam Á (austroasiatique). Tiếng Cơ Ho cũng như các ngôn ngữ cùng nhóm còn lư-u giữ những nét xư-a của một ngôn ngữ Đông Nam Á cổ.
Tiếng Cơ Ho trong quá khứ là một ngôn ngữ vùng, được nhiều dân tộc khác cộng cư sử dụng, nhất là khi người Kinh lên Tây Nguyên còn ít. Người Cơ Ho Lạch do tiếp xúc với nhiều cư dân khác trong vùng nên nhiều người trước đây nói khá thành thạo các ngôn ngữ Mnông, Chu Ru, Chăm. 14 phố chưa bao giờ bị bão tan công, chỉ có gió lớn do tác động của bão từ bién thôi vào vì sườn đông không có núi che chắn. Các quan chức Pháp muốn đặt thành phố này là “Little Paris”? (Một Paris thu nhỏ), thành phố nghỉ mát lý tưởng, trung tâm giáo dục có ý nghĩa cho cuộc sống của họ khi ở Đông Dương xa quê hương là nước Pháp xa xôi.
Vì vậy, Đà Lạt là thủ đô của Liên bang Đông Dương trong Thế chiến thứ hai. Thành phố Đà Lạt hiện tại có 16 đơn vi hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 12 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 4 xã: Tà Nung, Trạm Hành, Xuân Thọ, Xuân Trường. Lịch sử phát triển thành phố Đà Lạt Trước năm 1893, cao nguyên Lang Biang là nơi sinh sống của các tộc người Thượng. Nguyễn Thong‘, một người Kinh đầu tiên có ý định khám phá khu vực Lâm Viên vùng rừng núi Nam Trung Bộ, không thể thực hiện được kế hoạch đó do nhiều nguyên nhân.
Hai nhà thám hiểm, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans, đã tiến hành hai cuộc khám phá đầu tiên vào khu vực của người Thượng tại Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ vào hai năm 1880 và 1881. Vi vậy, họ được coi là những người đầu tiên phát hiện cao nguyên Lang Biang. Cuộc hành trình của Paul Néis và Albert Septans đã mở đường cho nhiều chuyến đi khám phá khác, bao gồm chuyến đi của A. Nouet vào năm 1882 và thiếu tá Humann vào năm 1884.
Bác sĩ Alexandre Yersin đã bắt đầu chuyến thám hiểm đầu tiên vào ngày 3.1891, với mong muốn tìm đường núi từ Nha Trang đến Sài Gòn. Tuy nhiên, chuyến đi đó không thành công. Sau đó, từ ngày 28.1892, ông đã thực hiện một cuộc thám hiểm khác, vượt qua vùng cao nguyên Dak Lắk dé đến Stung Treng, thuộc Campuchia, bên bờ sông Mê Kông. Vào tháng 1 năm 1893, Yersin được Toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan giao nhiệm vụ khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn vào vùng người Thượng, kết thúc tại một điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ.
Yersin cũng phải 3 Trần Sỹ Thứ; nhiều tác giả (2008), Dia chí Đà Lat, Thành phó Hồ Chi Minh: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr. Vị quan nhà Nguyễn nửa cuối thế kỷ XIX. Năm 1877, khi đang giữ chức dinh điền sứ tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Thông và Trương Gia Hội, vị quan tuần phủ Thuận Khánh, đã tiến hành thám hiểm vùng đất nằm gitta ba con sông La Nga, Đồng Nai và Đạ Huoai, trong đó nhóm đi xa nhất của đoàn thám hiểm đã đặt chân đến cực nam của tinh Lâm Đồng, thuộc địa bàn huyện Da Huoai ngày nay.
Toàn bộ hành trình chuyến đi được Nguyễn Thông ghi lại trong bài Sớ xin lập đồn điền khai khân vùng Thượng du. 15 nghiên cứu tài nguyên của khu vực đó như lâm sản, khoáng sản và khả năng chăn nuôi. Ông đã thực hiện ba chuyến đi quan trọng từ ngày 8. Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 21.1893, ông đã phát hiện cao nguyên Lang Biang.
Trong nhật ký hành trình, ông viết tắt “3h30: grand plateau dénudé mamelonné” (3h30: cao nguyên lớn trần trụi, gò đồi nhấp nhô). Toàn quyền Paul Doumer đã viết thư hỏi ý kiến của Yersin để tìm một vùng đất có khí hậu mát mẻ, tương đồng với châu Âu, với ý định xây dựng khu nghỉ dưỡng và trạm điều dưỡng. Yersin đã đề xuất cao nguyên Lang Biang là vùng đất lý tưởng nhất. Vào tháng 3 năm 1899, Yersin và Doumer cùng nhau thực hiện cuộc hành trình đến cao nguyên Lang Biang và quyết định thành lập trạm điều dưỡng tại đó.
Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Doumer ký một nghị định để thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang cùng hai trạm hành chính tại Tánh Linh và Haut-Donnai. Văn kiện nay đánh dấu các địa danh hành chính và được xem như tiền thân của thành phố Đà Lạt. Vào ngày 20 tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân đã ban hành lệnh thành lập thị trần Đà Lạt, tạo nên một trung tâm đô thi mới thuộc tỉnh Lâm Viên. Quyết định này đã được chấp thuận bởi Khâm sứ J.
Charles vào ngày 30 tháng 5 cùng năm. Trong giai đoạn từ những năm 1900 đến 1910, người Pháp xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và Phan Thiết dé kết nối với Da Lạt. Sự phát triển nhanh chóng của Đà Lạt được thúc đây bởi hệ thống giao thông tiện lợi. Vào năm 1893, khu vực hiện tại của Đà Lạt vẫn hoang sơ và không có dấu hiệu phát triển.
Đầu năm 1916, Đà Lạt chỉ có § ngôi nhà gỗ tập trung dọc theo dòng sông Cam Ly và 9 khách sạn nhỏ để phục vụ du khách. Tuy nhiên, số lượng khách sạn đã tăng lên 26 vào cuối năm. Đến cuối năm 1923, sau khi hoàn thành kế hoạch thiết kế đầu tiên, dan số của Đà Lạt đã tăng lên 1. Năm 1920, Toàn quyền Đông Dương ban hành một nghị định nhằm biến Đà Lạt thành một thành phó loại 2 và tái lập tinh Đồng Nai Thượng.
Nghị định này cũng thành lập nhà giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam Trung Kỳ, nhằm nâng cao vị trí của Đà Lạt như một trung tâm nghỉ mát ở Đông Dương. Dé quản lý thành phố, một Viên Đốc lý được bổ nhiệm dé đại diện cho Toàn quyền Đông Dương. Vào năm 1928, tỉnh ly của Đồng Nai Thượng chính thức được chuyên về Đà Lạt. Hội đồng thành phố đã được bầu ra vào năm 1936.
Đà Lạt đã trở thành tỉnh ly của tỉnh Lâm Viên mới tái lập vào năm 1941, và thị trưởng Đà Lạt cũng kiêm luôn chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên. 16 Trong thời kỳ Thế chiến II, người Pháp không thê trở về nước nên họ tập trung ở Đà Lạt dé nghỉ ngơi. Da Lạt đã đáp ứng nhu cau của họ về rau củ và hoa quả. Vào ngày 10 tháng 11 năm 1950, vua Bảo Đại ký một dụ số để xác định địa giới của thị xã Đà Lạt.
Theo một bản báo cáo về Đà Lạt năm 1953, thị xã Đà Lạt trở thành thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, với diện tích 67 km? và dân số là 25. Sau khi Hiệp định Genéve được ky kết vào năm 1954, dân số của Da Lat tăng nhanh do sự di cư từ Bắc vào Nam. Dưới chính quyền miền Nam, Da Lat phát trién thành một trung tâm giáo dục và khoa học. Năm 1957, Da Lat trở thành tỉnh ly của tinh Tuyên Đức và thi xã Đà Lat được chia thành 10 khu phố.
Sau khi Đà Lạt được công nhận là tỉnh ly, nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu đã được thành lập, bao gồm Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ BỊ Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà Lạt (1960), Trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966) và Trường Chỉ huy và Tham mưu (1967). Đồng thời, công tác xây dựng và sửa chữa các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục triển khai một cách nghiêm túc, bao gồm việc xây dựng hàng loạt biệt thự sở hữu bởi các quan chức Sài Gòn, xây dựng nhiều chùa chiền, nhà thờ và tu viện. Ngoài ra, Đà Lạt cũng trở thành một điểm đến yêu thích của các nhà văn, nghệ sĩ. Sau năm 1975, khi quân đội và cơ quan chính quyền miền Nam rút lui, ngành du lịch tại Đà Lạt bị tạm quên.
Tuy nhiên, việc bố sung cán bộ và quân đội từ miền Bắc đã ồn định dân số Đà Lạt lên khoảng 86. Trong những năm cuối thế kỷ trước và đầu thập kỷ này, nhiều khách sạn và nhà hàng đã được chỉnh trang và mở rộng, các biệt thự cô được trùng tu sử dụng phục vụ ngành du lịch.