Chương 1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIEN CUA HỆ PHÁI MÔN QUAN TRONG PHẬT GIÁO Ở KIÊN GIANG 1. Khái quát chung về Phật giáo tỉnh Kiên Giang Phật giáo là một tôn giáo lớn ở tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo nơi đây luôn có sự hoà đồng, gắn bó với truyền thống và trở thành một phan tất yếu của văn hoá cư dân miền biển. Với sự đa dạng về hệ phái, thống nhất về tổ chức, Phat giáo tỉnh Kiên Giang có sự hội tụ của cả Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Nam truyền và Khat si.
Đặc biệt, là vùng đất với sự giao thoa văn hoá của các dân tộc Việt, Chăm, Khmer và Hoa, Phật giáo Kiên Giang còn có sự hiện diện của hệ phái Môn Quan (Ông địa) mang màu sắc của Phật giáo và tín ngưỡng người Hoa rất đậm nét. Sự du nhập, phát triển của Phật giáo tỉnh Kiên Giang Người có công khai mở vùng đất Kiên Giang chính là Mạc Cửu. Ông là cận thần nhà Minh, quê ở Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 1679, Mạc Cửu do không phục nhà Thanh đã theo đường biển đi thuyền sang Chân Lạp và đến Phương Thành (tức Man Khảm).
Tại đây, được sự cho phép của vua Lê, Chúa Nguyễn, ông đã định cư tại Rạch Giá, Hà Tiên (Đạo Kiên Giang). Dé xây dựng va phát triển vùng đất mới, khai hoang, lập ấp, Mạc Cửu cho chiêu nạp rất nhiều các thành phần cư dân đến đây, bao gồm các lưu dân thuộc các cộng đồng người Việt, Khmer và Hoa. Cũng từ đây, hình thành nên bảy cộng đồng cư dân các thôn, ấp: Cần Bột, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau, , Phú Quốc, Vũng Thơm và Trũng Kè. Năm 1705, thời đại vua Lê Hiển Tông, dưới quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu, vùng đất Hà Tiên đã được Mạc Cửu đã dâng cho Triều đình và Chúa Nguyễn.
Ông được vua Lê, Chúa Nguyễn sắc phong chức vụ Tổng trấn 13 Hà Tiên, Tước Cửu Ngọc Hau. Kể từ đây, đối với Đại Việt thì vùng đất cuối cùng của phương Nam chính là Hà Tién.[27;45] Năm 1705-1715, Hoà thượng Hoàng Long (Hoang Long) từ Quy Nhơn vào đất Hà Tiên dé hành đạo, vốn là người chuộng đạo Phật, Mạc Cửu nhanh chóng trở thành Phật tử thân tín của Hoà thượng. Hoà thượng nhanh chóng cho xây dựng chùa Núi Bạch Tháp (núi Vân Sơn) làm nơi tu tập cho cư dân địa phương, đồng thời trụ trì chùa cho đến ngày viên tịch và nhập tháp tại chùa năm 1737. Với tắm lòng sùng Phật, năm 1730, Mạc Cửu cho xây dựng chùa Tam Bảo, làm nơi thờ Phật và tu tập cho mẫu thân là bà Thái Thị.
Năm 1935, ông mất, một năm sau đó, con trai là Mạc Thiên Tích (Tú) kế vị (1936), được vua Lê Túc Tông ấn phong giữ chức vụ Đô Đốc Tran thủ Hà Tiên. Trong suốt thời gian trụ thế đến trước ngày mat, Mạc Cửu đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa thờ Phật trên đất Hà Tiên. Chùa Phù Cừ (Phù Dung) được xây dựng năm 1750, làm nơi tu hành cho bà Thứ Cơ Phù Cừ sau khi xuất gia. Trong lịch sử Phật giáo Hà Tiên, ba ngôi chùa Bạch Tháp, Tam Bảo, Phù Dung được xem là những cơ sở tự viện đầu tiên được xây dựng.
Và Phật giáo có mặt tại vùng đất này là do Hòa thượng Hoàng Long - cũng là vị Thiền sư đầu tiên mang đạo Phật đến đất Hà Tiên, Kiên Giang. Năm 1780, Mạc Thiên Tích (Tứ) từ trần, sau khi Chúa Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Khoát hoàn thành công tác định hình đất nước Đại Việt hình chữ S vào năm 1757-1759. Vùng đất Kiên Giang ké từ khi Mạc Cửu khai hoang lập ấp, cho đến đời vua Gia Long thứ 7 có sự thay đổi về tên gọi và quyền điều hành, quảng lý. Năm 1808, vua Gia Long đặt Đạo Kiên Giang.
Vùng đất Hà Tiên, Rạch Giá dưới triều nhà Nguyễn do Tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên) Doãn Uan (1843-1867) điều hanh và quản lý. Trước khi 14 Pháp xâm chiếm Việt Nam, Rạch Giá là một huyện ly của Trấn Hà Tiên. Khi miền Nam bị thực dân Pháp chiếm đóng hoàn toản, dé thuận tiện cho việc điều hành quản lý, Pháp đã thành lập một huyện mới thuộc tỉnh Rạch Giá, bao gồm Nam kỳ Lục tỉnh: Biên Hoà, An Giang, Vĩnh Long, Gia Định, Định Tường và Tran Hà Tiên.[27;195] Trong bối cảnh thực dân pháp đàn áp Phật giáo, cùng với sự trỗi dậy của các phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra tại Trung Quốc do Đại sư Thái Hư lãnh đạo lan rộng sang nhiều quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Năm 1920, Hoà thượng Khánh Hoà đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam.
Tại chùa Giác Hải, Chợ Lớn, Hoà thượng cho lập Hội Lục Hoà. Ké từ đây, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào này đã nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, nhất là vùng đất Nam kỳ Lục tinh (Biên Hoa, An Giang, Vinh Long, Gia Dinh, Định Tường và Tran Ha Tién) va ra toan tinh Rach Gia (Kién Giang). Bang những hoạt động tích cực cua các vi Hoà thượng Khánh Hoa, Huệ Quang Từ Phong, Thiện Chiếu. ngày 26 tháng 08 năm 1931, chính quyền Pháp buộc phải cho phép thành lập Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học (Hội Nghiên cứu và Bảo tồn Phật giáo tại Nam kỳ).
Hội có trụ sở sinh hoạt tại chùa Linh Sơn, Sai Gon. Hòa thượng Khanh Hòa được suy cử giữ chức vụ Hội trưởng. Hòa thượng Trí Thiền húy Hồng Nguyện trụ trì chùa Tam Bảo, Rạch Giá từ năm 1913, là thành viên sáng lập và làm cố van cho Hội. Văn phòng liên lạc đặt tại chùa Sắc tứ Tam Bảo, Rạch Giá.
Đến năm 1936, khi Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học hoạt động không hiệu quả, Hòa thượng Thích Trí Thiền, Hòa thượng Thích Thiện Chiếu lui về chùa Tam Bảo, Rạch Giá thành lập Hội Phật học Kiêm té ngay 23/03/1937, do Hòa thượng Thích Tri Thiền làm Chánh Tổng lý, Hòa thượng Thich Bửu Nguyên, chùa Thập Phương, Hòa thượng Thích Bửu Tịnh, chùa Phước Thạnh 15 làm Phó Tổng lý. Hội cho xuất bản Tạp chí Tiến hóa tháng 01/1938, do cụ Phan Thanh Hà (Hòa thượng Thích Pháp Linh), làm chủ bút, ông Đỗ Kiết Triệu làm chủ nhiệm. Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 03/02/1930 và hoạt động sâu rộng, Hòa thượng Thích Trí Thiền, Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, Hòa thượng Thích Pháp Linh, Thượng tọa Thích Thiện Ân. đều là cảm tình viên của Đảng, hoạt động bí mật trong lòng địch.
Năm 1939, cơ sở tại chùa Tam Bảo bị lộ, Hòa thượng Thích Trí Thiền, Thượng tọa Thích Thiện Ân bị bắt, Thượng tọa Thích Thiện Chiếu may man thoát thân. Thượng tọa Thích Thiện Ân bị tử hình, Hòa thượng Thích Trí Thiền bị đày ra Côn Đảo và hy sinh tại Côn Đảo ngày 26/06/1943. [12; 25] Sau khi Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, Hội Phật học Kiêm tế ngừng hoạt động, đến ngày 19/09/1950 Tại Sài Gòn, Hội Phật học Nam Việt được thành lập, bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe được suy cử giữ chức Hội trưởng và Tổng Thư ký là cụ Mai Thọ Truyền làm. Ban đầu, khi mới thành lập, Hội có trụ sở sinh hoạt tại chùa Khánh Hưng, Chí Hoa Sai Gòn.
Sau một thời gian hoạt động, Hội chuyển trụ sở về chùa Phước Hòa, Bàn Cờ và sau đó là chùa Xá Lợi. Hội tiến hành thành lập các Tỉnh hội Phật học miền Nam. Hòa thượng Thích Bồn Châu xuất gia tu học tại chùa Vạn Tho, Sai Gòn, sau khi tham dự khóa Như Lai Sứ giả 1957-1958 tại chùa Pháp Hội do Giáo hội Tăng già Nam Việt tô chức. Hòa thượng được Giáo hội bổ nhiệm về trụ trì chùa Tam Bảo, đồng thời cũng là đại diện cho Giáo hội Tăng già Nam Việt tỉnh Kiên Giang.
Do đó, từ năm 1950-1980, chùa Tam Bảo là trụ sở Tỉnh hội Phật học Rạch Giá do Hòa thượng Thích Bổn Châu trụ trì, cư sĩ Đặng Văn Man làm Hội trưởng Hội Phat học tỉnh Kiên Giang (Rach Gia).[12;93] Trong năm 1963, Phật giáo miền Nam có nhiều khởi sắc, thoát khỏi tình trạng Pháp nạn kéo dài nhiều năm, đặc biệt là sau cách mạng 01/11/1963 thành công. Ngày 04/01/1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra 16 đời, sau Đại hội Thống Nhất Phật giáo miền Nam diễn ra tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn. Lần lượt các tỉnh hội được thành lập. Viện Hóa đạo đã bổ nhiệm Hòa thượng Thích Bồn Châu làm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang), Văn phòng đặt tại chùa Tam Bảo.
Khi Thượng tọa Minh Giác làm Chánh Đại diện cho đến ngày 30/04/1975, Văn phòng đặt tại chùa Phổ Minh, thị xã Rach Gia, tỉnh Kiên Giang. Sau năm 1975, trong bối cảnh đất nước thống nhất Bắc - Nam. Sau những nỗ lực của Chư Tôn Đức, Tăng Ni và các Hoà thượng lãnh đạo Giáo hội. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời năm 1981 trên cơ sở hợp nhất của 9 tổ chức Phật giáo trong cả nước.
Ké từ đây, Phật giáo Việt Nam thống nhất trên toàn lãnh thé. Hòa thượng Danh Nhưỡng trụ trì chùa Láng Cát (Ratanarimi) xây dung năm 1414 đại diện Phật giáo Nam tông, Hòa thượng Thích Bồn Châu trụ trì chùa Tam Bảo thành lập năm 1900 đại diện Phật giáo Bắc tông tham dự Đại hội. Cũng trong Đại hội này, tô chức Giáo hội được hoàn thiện và ồn định. Các vi Hoà thượng Kiên Giang được suy cử giữ những trọng trách quan trọng của Giáo hội: Thành viên Hội đồng Chứng minh có Hòa thượng Danh Nhưỡng, Ủy viên Hội đồng Trị sự có Hòa thượng Thích Bồn Châu.
Được sự phân công của Đại hội, hai Hòa thượng trở về Kiên Giang tiến hành hiệp thương với các Hệ phái Phật giáo: Phật giáo Cổ Truyền Lục Hòa Tăng, Thượng tọa Thích Bửu Nguyên đại diện; Phái Phật giáo Thiền Lâm do Thượng tọa Huyền Thông đại diện; Hệ phái Khat sĩ Tăng, Thượng tọa Thích Giác Phước đại diện; Hệ phái Khat sĩ Ni, Ni trưởng Liễu Liên đại diện; Hội Phật học Cư sĩ, Lâm Minh Khải đại diện; Minh Nguyệt Cư sĩ (Hoa tông), Cư sĩ Quách Văn Thành đại diện, đã đoàn kết, hòa hợp cùng tô chức Đại hội thành lập Tỉnh hội Phat giáo Kiên Giang năm 1882. Văn phòng đặt tại chùa Sắc tứ Tam Bảo, đường Sư Thiện Ân, thị xã Rạch Giá, nay là thành phố Rạch Giá. Bằng sự tín nhiệm và những đóng góp của mình, Hoà thượng Danh 17 Nhưỡng tiếp tục được bầu giữ chức vụ Trưởng ban Tri sự, Hoà thượng Thích Bốn Châu được bầu đảm nhiệm chức vu Trưởng ban Trị sự, Phó Trưởng ban Thường trực. Sau khi Hòa thượng Thích Bồn Châu viên tịch năm 1993, Đại hội suy cử Hòa thượng Thích Giác Phước trụ trì chùa Phật Quang (Tịnh xá Ngọc Buu) làm Phó Trưởng ban Thường trực.