CHƯƠNG 1: ẢNH HƯỞNG CỦA BÁO CHÍ PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1. Những ảnh hưởng của Phật Giáo trong đời sống xã hội, văn hóa, nghệ thuật Việt Nam là một quốc gia nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc Đông Nam Châu Á và là nơi dừng chân của các thương gia buôn từ vùng Địa Trung Hải. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi mà Việt Nam đã sớm thiết lập các mối quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, tôn giáo… Đây chính là tiền đề cho sự du nhập các tôn giáo lớn vào nước ta, trong đó có Phật Giáo. Ngay khi mới du nhập, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt.
Vì thế, Đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập với mọi giai tầng của xã hội Việt Nam. Đạo Phật đã thấm vào nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất. Đạo Phật đã lan tỏa khắp thôn xóm, ngõ phố trên lãnh thổ hình chữ S và có một chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam. Đạo lý của Phật Giáo Việt Nam ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân trên xứ sở này.
Trong suốt chiều dài lịch sử , Đạo Phật đã chứng minh sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… và có những ảnh hưởng tích cực vào các mặt nói trên. Ngày nay, nhiều học giả và giới nghiên cứu đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được truyền vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua đường biển và đường bộ. Những thương nhân Ấn Độ đã tới các vùng này để buôn bán bằng thuyền buồm. Trong các chuyến viễn dương này, các thương nhân thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn.
Nhờ đó mà các vị tăng này đã đến truyền bá Đạo Phật vào các dân tộc ở Đông z Nam Á. Việt Nam lúc bấy giờ là Giao Châu với trung tâm Luy Lâu, là điểm tập kết nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền. Tương truyền vào đời Hùng Vương thứ 3, công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử. Chuyện kể rằng Đồng Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài.
Một hôm, Đồng Tử theo một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đây ông đã gặp một nhà sư Ấn Độ ở trong một túp lều. Nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đã biết đến Đạo Phật. Qua dữ kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ Ấn Độ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch. Phật Giáo du nhập vào nước ta còn thông qua đường bộ.
Con đường này nối liền Đông- Tây, phát xuất từ vùng Đông Bắc Ấn Độ hoặc phía Trung Á Đây là một nhánh giao thương đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và sa mạc ở Trung Á tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc đà. Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông Mekong, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam. Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độ vào đầu công nguyên đã theo con đường này mà đến đất Lào. Sau đó từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An.
Có thể coi thế kỷ II đến thế kỷ thứ V là thời kì hình thành của Phật Giáo tại Việt Nam. Không bao lâu khi Phật Giáo được truyền vào đất Việt, nhờ sự nỗ lực trong hoạt động truyền giáo của các tăng sĩ Ấn Độ, tại Luy Lâu, thủ phủ của Giao Chỉ lúc bấy giờ đã trở thành một trung tâm Phật Giáo lớn nhất trong vùng. Sang thế kỷ thứ III, có ba nhà truyền giáo nước ngoài đến hoằng Pháp tại Giao Châu là các ngài Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane, Khương Cư), ngài Chi Cương Lương Tiếp (người xứ Nhục Chi) và ngài Ma Ha Kỳ Vực (người Ấn Độ). Đến thế kỷ thứ V, có hai thiền sư xuất hiện, là Đạt Ma Đề Bà (Oharmadeva) và Huệ Thắng (người Việt).
Thiền sư Đạt Ma Đề Bà là người Ấn Độ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V để giảng dạy về phương pháp thiền học. Thiền sư Huệ Thắng là một trong những học trò của ông. Cũng do được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu kỷ nguyên Tây lịch, nên danh xưng Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt là Bụt (Trung Hoa dịch là Phật). Điều này trùng hợp với danh từ Bụt được xuất hiện trong nhiều truyện cổ tích Việt Nam.
Tiếng Bụt phổ biến hơn trong văn học dân gian là dấu hiệu chứng tỏ Đạo Phật truyền vào nước z ta rất sớm. Phật Giáo ở Giao Châu lúc ấy mang màu sắc Nam phương, nhưng trong con mắt của nền văn minh nông nghiệp, người Việt Nam lại hình dung Đức Phật như là một vị thần toàn năng có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện để cứu độ chúng sinh. Sang thế kỷ thứ VI đến thế kỷ IX, Phật Giáo Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng. Thời kì này, Phật tử Việt Nam lại tiếp nhận thêm những đoàn truyền giáo của Trung Quốc, với ba tông phái là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông.
Không bao lâu sau đó, Phật Giáo Bắc phương (Trung Quốc) đã chiếm ưu thế và vượt qua cả Phật Giáo Nam truyền vốn có từ trước. Từ Buddha được dịch thành chữ Phật. Từ đây Phật dần dần thay thế cho chữ Bụt và chữ Bụt chỉ còn giới hạn trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích mà thôi. Thiền Tông : Thiền hay còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân lý.
Tu theo pháp môn này đòi hỏi hành giả phải có nhiều công phu và khả năng trí tuệ. Do vậy chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu và cũng chính nhờ họ ghi chép lại mà chúng ta ngày nay mới biết được lịch sử Thiền Tông ở Việt Nam. Vua Trần Nhân Tông (1258-1368) học Phật Giáo qua sự hướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền sư cư sĩ nổi tiếng đời Trần. Sau khi xuất gia vào năm 1299 với đạo hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà, Vua Trần Nhân Tông đã lên tu ở núi Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh).
Tại đây, ngài đã lập ra thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Việt Nam đầu tiên, mang tính chất Việt với sự kết hợp hài hòa của Phật Giáo Trung Hoa. Lập ra thiền phái Trúc Lâm này, nhà vua đã thống nhất được các thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ Giáo Hội Phật Giáo đời Trần về một mối. Nhìn chung thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền tổng hợp được ba yếu tố đặc thù của xã hội. Trúc Lâm đại diện cho quý tộc, Pháp Loa đại diện cho nông dân và Huyền Quang đại diện cho nho sĩ.
Tính cách quý tộc, nông dân và nho sĩ là thể hiện toàn diện trong con người Trúc Lâm. Sự tổng hợp đó, đã tạo nên nét đặc thù của thiền phái Trúc Lâm mà các thiền phái trước đó không có được, kể từ đó đưa Đạo Phật đi vào xã hội với tinh thần nhập thế cụ thể, giáo hội được tổ chức chặt chẽ, củng cố tinh thần đạo pháp và dân tộc xây dựng phồn vinh cho đất nuớc. z Sau thời đại Lý Trần các dòng thiền Việt Nam dường như lu mờ và tàn lụi hẳn. Đến cuối thế kỷ thứ XX để tiếp nối đạo mạch Việt Nam, thiền sư Thích Thanh Từ đã phục hưng nền thiền tông Việt Nam.
Đó là thời điểm đầu những năm 70 tại tu viện Chơn Không (1970-1986) rồi đến Thường Viện Thường Chiếu (1974-1994) và hiện nay là thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt. Ông lập thành phương pháp tu tập cho thiền sinh Việt Nam trong thời hiện đại. Một dòng thiền khác mang tính cách độc lập của người Việt Nam. Khác với Thiền Tông, Tịnh Độ Tông chủ trương phải dựa vào tha lực tức sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Thật ra, Thiền hay Tịnh Độ cũng chỉ là những pháp môn tu tập thích hợp cho nhiều đối tượng khác nhau do Đức Phật truyền giáo ra. Nhờ cách thức tu tập đơn giản nên Tịnh Độ Tông là tông phái phổ biến khắp đất nước Việt Nam. Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng Kinh A Di Đà và niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà. Tượng Phật A Di Đà cũng thuộc loại tượng Phật lâu đời và phổ biến ở Việt Nam.
Điển hình là pho tượng Phật A Di Đà bằng đá, cao gần 2m, thờ tại chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh, được tạo tác dưới triều Lý Thánh Tông năm 1057. Đây là một bằng chứng đánh dấu sự ảnh hưởng Tịnh Độ Tông đầu tiên ở Việt Nam. Khác với Thiền Tông và Tịnh độ tông, Mật tông chủ trương sử dụng hình ảnh cụ thể, mật ngữ, mật chú để khai mở trí tuệ giác ngộ. Tương truyền Mật Tông do Phật Đại Nhật chủ xướng và có hai bộ kinh chính là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương.
Mật tông truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các truyền thống như chẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật, yếm bùa trị tà ma và trị bệnh. Mật tông không có dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào sự thọ trì của từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông phái này. Phật Giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ XVIII là thời kỳ phát triển cực thịnh tới mức toàn vẹn. Trải qua 1000 năm Bắc thuộc, đến thế kỷ thứ X thì Việt Nam mới bắt đầu giành được quyền tự chủ.
Chính trong thế kỷ này Đạo Phật mới thực sự hưng thịnh và có những đóng góp tích cực cho đất nước. Do ảnh hưởng tư tuởng của vua Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, thiền phái z Trúc Lâm là thiền phái duy nhất dưới đời Trần đã hòa hợp các thiền phái khác và phát triển cực thịnh. Vì vậy đời Trần có thể gọi là thời đại thống nhất của các hệ phái Phật Giáo trước đó. Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị như các thiền sư đời Lý, nhưng Phật Giáo là một yếu tố quan trọng để liên kết nhân tâm.
Tinh thần Phật Giáo đã kiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dân, thân dân và dân chủ.