đặt vấn đề như vậy, V.I Lênin đã đặc biệt chú ý tới tầng lớp SV trí thức. Vai trò này của họ trong đấu tranh cách mạng và trong phát triển xã hội chỉ có thể được thể hiện và phát huy khi họ được giáo dục về thế giới quan khoa học, cách mạng và được tập hợp thành tổ chức, nhờ đó họ hoạt động trong các phong trào cách mạng, gắn lý luận với thực tiễn. Với SV hoạt động chính của họ là học tập. Để xứng đáng với niềm tin yêu của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, SV phải xác định được lý tưởng sống của họ thông qua hoạt động học tập, phải tự trả lời được câu hỏi: học cái gì? học để làm gì? học để phụng sự ai? Người đã chỉ bảo ân cần SV phải học tập toàn diện (học văn hoá, khoa học, kỹ thuật, quân sự và chính trị) với phương pháp học hiện đại (học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn) phải có quan điểm thực tiễn trong học tập (học trong nhân dân dân, trong mối quan hệ với giai cấp cách mạng, tham gia vào đời sống chính trị, vào các hoạt động xã hội.) có như vậy SV mới trở thành con người toàn diện có đức, có tài, trở thành một “trí thức hoàn toàn” [27, tr.
235] và làm tốt được công tác mà Đảng, Đoàn giao phó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, SVVN luôn luôn là lực lượng hăng hái tham gia các phong trào cách mạng. Phát huy truyền thống yêu nước của thanh niên Việt Nam, khi đất nước lâm nguy, nhiều SV đã “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” vì 18 z nước quên mình, có người vì hoàn cảnh không được học ở nhà mà phải đi học xứ người nhưng vẫn giữ nguyên vẹn tấm lòng sắt son. Nhiều người được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng và các danh hiệu cao quý khác.
Theo lời kêu gọi của Đoàn TNCS HCM, nhiều năm qua hàng ngàn SV tốt nghiệp đã về nông thôn lập thân, lập nghiệp, góp phần mang tri thức khoa học về nông thôn, đưa nông thôn từng bước đi vào CNH, HĐH. Ngày nay khi nhân loại coi tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của các quốc gia và vai trò của giới trí thức không ngừng được tăng lên với tư cách là nguồn lực của phát triển thì SV nguồn bổ sung cho đội ngũ tri thức có vai trò hết sức to lớn, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay. Tại đại hội lần thứ V Hội SVVN (22/11/1993) nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định “sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng CNXH có thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết định, trong đó SV là bộ phận có vai trò hết sức quan trọng [28, tr. Khái niệm đạo đức Đạo đức theo từ điển Anh Việt (1993) được định nghĩa như sau: “1, Những nguyên tắc xử thế đúng đắn: đạo đức.
2, (Mức độ) phù hợp các nguyên tắc đạo đức, lòng tốt hay tính đúng đắn; đạo lý, đạo nghĩa. 3 là hệ thống đạo đức riêng: đạo; giáo lý” [40, tr. Đạo đức theo tiếng Anh là Morality (từ điển Oxford 1995) giải thích: “1, những quy tắc liên quan đến đúng và sai, hoặc hành vi tốt hoặc xấu. 2, Mở rộng đối với những gì là đúng hoặc sai, tốt hoặc xấu.
Một hệ thống đặc biệt về các quy tắc” [40, tr. 19 z Đạo đức là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học và của nhiều nhà khoa học. Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở những khía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau: - “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [10]. - “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên” [10].
- “Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình” [10]. - “Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo đức của con người theo hướng thiện, tránh hướng ác. Mỗi một xã hội, mỗi một nhóm xã hội và một cá nhân có thể lý giải cái thiện và cái ác theo những cách khác nhau tuỳ thuộc vào quan niệm sống và lợi ích của mình” [24]. Có thể liệt kê ra rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức.
Nhưng tựu trung lại, dù theo cách định nghĩa nào thì đạo đức cũng được xem là một hiện tượng xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản sau: chức năng định hướng giáo dục; chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng kiểm tra đánh giá. Đạo đức còn được xem là một hình thái ý thức xã hội, có quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác: chính trị, pháp luật, khoa học, tôn giáo. Đạo đức thể hiện ở các quan niệm về thiện và ác, hạnh phúc, nghĩa vụ, lương tâm, danh dự, lẽ công bằng. Những phạm trù này xoay quanh một cái gốc triết học cơ bản và biểu thị cụ thể thành một hệ thống chuẩn mực đạo đức.
Hệ thống quan niệm về đạo đức thay đổi tuỳ theo chế độ chính trị - xã hội. Tuy nhiên, giữa các hình thái KTXH, chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì vẫn có ít nhiều quan niệm về đạo đức 20 z giống nhau, hoặc là về ngôn từ hoặc là cả về nội dung chủ yếu. Về cơ bản, “xã hội nào thì đạo đức ấy”. Trong đạo đức của của các chế độ chính trị - xã hội khác nhau cũng có một số vấn đề được gọi là “tính nhân loại phổ biến của đạo đức”.
Ví dụ: lòng nhân ái, lương tâm, lòng tự trọng, khiêm tốn, lễ độ. Hệ thống các quan niệm, chuẩn mực đạo đức được biểu hiện, tồn tại dưới hình thức những hành vi đạo đức sống động của những nhân cách cụ thể vận hành ý thức đạo đức ấy và dưới hình thức tồn đọng trong nền văn hoá - xã hội, đặc biệt là trong lối sống, phong tục tập quán, nền lý luận, ca dao, tục ngữ, cách đối nhân xử thế [39, tr. Đạo đức của mỗi con người được thể hiện thông qua hành vi đạo đức. Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức.
Hành vi đạo đức chịu sự quy định bởi các yếu tố tâm lý: Chủ thể của hành vi đạo đức (toàn bộ nhân cách cụ thể và GDĐĐ phải thông qua tổ chức cho người được giáo dục tham gia vào các hành vi đạo đức và giáo dục toàn bộ nhân cách con người); tính sẵn sàng hành động có đạo đức; niềm tin đạo đức; xu hướng đạo đức; phẩm chất ý chí và phương thức hành vi. Hành vi đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu đạo đức. Nhu cầu đạo đức quy định sự bộc lộ hành vi đạo đức, nhưng hành vi đạo đức cũng tác động trở lại nhu cầu đạo đức làm cho nó biến đổi. Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu cầu của cá nhân.
Trong một điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ được nổi bật lên và dần xác định được đối tượng để thoả mãn nhu cầu đó. Khi đối tượng được xác định tức là động cơ đạo đức được hình thành. Động cơ đạo đức chính là yếu tố thúc đẩy chủ thể tiến hành hành vi đạo đức. Trong quá trình đó, nhân cách của con người được bộc lộ và hình thành.
Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động, góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Đạo đức còn thể hiện ở hiệu quả hoạt động cá nhân trong việc hoàn thiện nhân cách suốt đời, sự đóng góp của bản thân vào việc thực hiện nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng một xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Người có đạo đức là người tự giác, sáng tạo, thực hiện có hiệu quả, có chất lượng cao các nhiệm 21 z vụ của bản thân đối với công việc, đối với xã hội, gia đình và ở cộng đồng nơi sinh sống. Hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm đạo đức, chúng ta thấy đạo đức còn liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống.
Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân. Với tư cách là chủ thể hoạt động trong các quan hệ xã hội. Nói đến đạo đức trong xã hội và ở từng con người là nói tới chuẩn mực đạo đức (hay còn gọi là giá trị đạo đức) là những phẩm chất đạo đức có tính chất chuẩn mực nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước đo giá trị cần có ở mỗi người. Những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như một mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mọi người, nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngành nghề.
Đồng thời chuẩn mực đạo đức đó lại có giá trị định hướng, chi phối, chế ước quá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người. Đạo đức là một “phạm trù lịch sử” [41, tr. Trong giai đoạn hiện nay, khi quá trình hội nhập đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề mang tính chất toàn cầu, đòi hỏi phải có sự chung tay của nhân loại mới có thể giải quyết được. Chính vì vậy, nội dung đạo đức không chỉ là lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu con người, lòng nhân ái nói chung mà còn phải bao gồm các vấn đề sau: giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc, bảo vệ môi trường, đấu tranh cho thế giới hòa bình.
Giáo dục (Rèn luyện) đạo đức sinh viên GDĐĐ là một bộ phận nền tảng, hợp thành của nội dung giáo dục toàn diện nhằm giúp thế hệ trẻ hình thành lý tưởng, ý thức và tình cảm đạo đức, tạo nên thế giới quan, nhân sinh quan và hành vi đạo đức của con người mới XHCN.