Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài. Khái niệm động cơ và các lí thuyết về động cơ.1 Khái niệm động cơ. Vấn đề động cơ là vấn đề trung tâm trong cấu trúc nhân cách. Theo Leonchiep “sự hình thành nhân cách con người biểu hiện về măt tâm lý trong sự phát triển động cơ của nhân cách” (1).
Hay nói khác đi, vấn đề động cơ là vấn đề trung tâm của tâm lý học. Việc lý giải tại sao con người hành động thế này hay thế khác về thực chất đó là những nghiên cứu về động cơ được dùng như một khái niệm trung tâm để nhằm lý giải hành vi và nguyên nhân của những hành vi ấy (5). Động cơ là một khái niệm trung tâm của tâm lý học, rất nhiều ý kiến cho rằng trên con đường của sự tiến hoá thì động cơ xuất hiện khá muộn. Nói đến động cơ là nói đến xu hướng lựa chọn hoạt động của con người.
Khái niệm động cơ được dùng để chỉ sự phản ánh ở mức độ cao hơn, khi trong một hoàn cảnh nào đó diễn ra sự lựa chọn để đáp ứng trong một loạt các kích thích cùng đồng thời tác động lên cơ thể. Việc lựa chọn được thực hiện sẽ thúc đẩy cơ thể hoạt động, hướng mọi sự chú ý và tính tích cực của nó vào việc mục đích đã lựa chọn. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về động cơ. Nhà tâm lý học Nga nổi tiếng A.N Leonchiep khi bàn về động cơ cho rằng: Thứ nhất động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lý gắn bó chặt chẽ với nhau.
Thứ hai, động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được thể hiện trên tri giác, biểu tượng tư duy … Hay nói khác đi, đó chính là sự phản ánh chủ quan về đối tượng thoả mãn nhu cầu. Thứ ba là động cơ có chức năng định hướng thúc đẩy và định hướng hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu (2). Piagiex thì cho rằng tính định hướng tích cực, có chọn lọc của hành vi tạo thành bản chất của hiện tượng được xác định là động cơ. Smit định nghĩa động cơ như là một quá trình bên trong có ảnh hưởng đến hướng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích (16).
4 Khác với quan điểm trên, Maurie Reuchlin cho rằng khi nghiên cứu động cơ chính là sự phân tích các yếu tố gây ra hành động, hướng nó vào mục đích nào đó, cho phép nó kéo dài nếu chưa đạt được mục đích hoặc ngưng lại nếu chưa đạt được mục đích … và phân tích các cơ chế cắt nghĩa tác dụng của các yếu tố đó (4). Có rất nhiều ý nghĩa khác nhau về động cơ hoạt động của con người, song mọi quan điểm đều cho rằng, động cơ là một hiện tượng tâm lý thúc đẩy, quy định sự lựa chọn và hướng của hành vi. Việc nghiên cứu về động cơ thực chất chính là quá trình lý giải nguyên nhân dẫn đến hành vi đó. Trong lịch sử tâm lý học đã tồn tại những quan điểm duy tâm về động cơ.
Những người đi theo quan điểm này nhìn thấy nguồn gốc động cơ của con người trong tư duy, ý thức. Anghen đã viết về điều đó như sau: “Con người quen giải thích hành động của mình bằng tư duy của họ, mà đáng nhẽ ra phải giải thích chúng từ nhu cầu”. Những giải thích đầu tiên về động cơ con người theo quan điểm duy vật cơ học máy móc ban đầu là gắn động cơ với những nhu cầu sinh lý như đói, khát … Và chính cách nhìn nhận động cơ của con người như những bản năng dẫn đến chỗ đối lập cá nhân với xã hội, và xem môi trường xã hội chỉ như là điều kiện để các bản năng vốn có của con người dần dần được bộc lộ trong qúa trình phát triển mà thôi. Bên cạnh đó, các nhà tâm lý hộc hành vi cổ điún bằng con đường duy vật giải thích hành vi của con người một cách máy móc, theo mô hình phản xạ có điều kiện.
Quan điểm này thường phủ nhận hoặc không đánh giá đúng mức tính tích cực của con người. Theo dòng lịch sử phát triển của khoa hoc, ngày càng có nhiều nhà khoa học nhận thấy nhược đỉêm của những quan điểm trên. Chúng ta có thể nêu ra một số điểm đáng lưu ý về động cơ thông qua những kết quả nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như sau: Đầu tiên động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Bởi như chúng ta đã biết nhu cầu bao giờ cũng mang tính 5 đối tượng – nhu cầu về một cái gì đó.
Tuy nhiên, khi ở chủ thể xuất hiện trạng thái cần cái gì đó thì đối tượng thoả mãn nhu cầu chưa được xác định rõ. Chỉ khi nhu cầu gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nhu cầu mới mang tính đối tượng. Đối tượng thoả mãn nhu cầu được con người tri giác, tư duy thúc đẩy và định hướng hành động của chủ thể sẽ trở thành động cơ. Như vậy động cơ là tất cả những gì xuất hiện ở cấp độ phản ánh tâm lý thôi thúc con người hành động nhằm thoả mãn nhu cầu.
Như trên trình bày, thì ở đây xuất hiện vấn đề về mối quan hệ biện chứng giữa động cơ và nhu cầu. Khi bàn về động cơ, người ta không thể không bàn đến nhu cầu. Ngược lại khi nói đến nhu cầu thì không thể không nói đến động cơ - động lực thúc đẩy con người thoả mãn nhu cầu. Do đó, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất yếu khách quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu khách quan đó.
Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu có quan hệ không đồng nhất. Những nhu cầu giống nhau được thoả mãn bởi những động cơ khác nhau. Ngược lại, sau những động cơ giống nhau có thể là những nhu cầu khác nhau (3). Đây chính là tính chất đa dạng về phương thức thoả mãn nhu cầu con người.
Thứ hai, động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử – xã hội. Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn. Bởi trước hết, luận điểm này khẳng định rằng các động cơ đặc trưng của con người nảy sinh và hình thành trong quá trình phát triển cá thể, chứ không phải là một cái gì đó có sẵn từ khi đứa trẻ được sinh ra. Do đó, một vấn đề cơ bản và quan trọng là phải nghiên cứu các cơ sở quy định quá trình hình thành các động cơ đặc trưng của con người và các cơ chế của quá trình đó.
Hiện nay hầu hết các nhà tâm lý học đều khẳng định rằng hệ thống động cơ của con người được hình thành trên cơ sở sự hoạt động và giao tiếp của chủ thể trong hệ thống các quan hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định, mà ở đó mỗi chủ thể thực hiện vai trò của mình. Tính lịch sử xã hội của cá nhân được thể hiện ở chỗ, đối tượng thoả mãn nhu cầu của con người thường là sản phẩm của quá 6 trình sản xuất xã hội. Những sản phẩm đó với tư cách là những phản ánh tâm lý về các đối tượng đó nên các động cơ của con người thường mang tính xã hội. Đối với những nhu cầu giản đơn, sơ cấp, mang tính bản năng thì cách đáp ứng nhu cầu đó cũng mang tính xã hội thuộc vào điều kiện sống cụ thể, nền văn hoá, lối sống của mỗi người, mỗi nhóm người.
Như vậy, có thể nói rằng, động cơ là một hiện tượng tâm lý giúp con người lựa chọn hướng của hành vi. Động cơ là phản ánh tâm lý thúc đẩy con người hành động nhằm thoả mãn nhu cầu. Động cơ mang tính xã hội lịch sử 1.2 Các lí thuyết về động cơ a, Lý thuyết về động cơ của S. Toàn bộ lý giải về cơ chế vận hành của động cơ con ngưòi được Freud thể hiện trong hệ thống về lý thuyết nhân cách của ông.
Là một bác sỹ chuyên khoa thần kinh, ngay từ buổi đầu ông đã có dịch tiếp xúc với rất nhiều bệnh nhân và ông phát hiện ra rằng nhiều người trong số họ không có tổn thương thực thể. Quyết tâm nghiên cứu tới cùng những bệnh nhân này Freud đã từ bỏ cách tiếp cận suy nghĩ thần kinh và chuyển sang cách tiếp cận tâm lý học. Trong qúa trình làm trị liệu của mình ông thực sự quan tâm đến những bệnh nhân Hystery. Bằng phương pháp thôi miên và sau này là phương pháp liên tưởng tự do ông đã đi đến kết luận rằng chìa khoá để hiểu các chứng nhiễu tâm nói chung và các triệu chứng Hystery nói riêng nằm ở vô thức.
Yếu tố vô thức có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con người, không chỉ là riêng vởi người bệnh. Trong trị liệu điều quan trọng là phải tìm ra được yếu tố vô thức đã đẻ ra các triệu chứng bệnh kể cả là những xung lực bị trấn áp từ qua khứ xa xưa. Học thuyết của Freud về cơ bản là dựa trên khái niệm vô thức. Ông cho rằng mọi hoạt động của con người đều bắt nguồn từ vô thức.
Lúc đầu, ông cho rằng đời sống tâm lý của con người có ba mức: Vô thức, tiền ý thức, và ý thức. Cái vô thức là nguồn gốc chứa đựng những bản năng tạo ra động cơ của con người bao gồm cả 7 vận động và hành vi trí tuệ. ở tầng tiền ý thức của con người chứa đựng những nội dung tâm lý. Bình thường những nội dung này không được ý thức, song nó dễ dàng được chuyển sang cùng ý thức.
ở tấng ý thức mọi hành vi của con người diễn ra dưới sự kiểm duyệt của xã hội. ở tâng này trạng thái tâm lý của con người thường mâu thuẫn với tầng vô thức. Lý thuyết của Freud dùng để giải thích các bệnh như Hystery, sự quên các sự kiện hay một số các sự kiện như giấc mơ, nói lỡ … và cơ chế đó được giải thích như sau: Một ham muốn nào đó trỗi dậy liền đụng phải “Trạm kiểm duyệt của ý thức”, và do đó phải tìm đường đi vòng và chuyển sang hình thức khác. Về hình thức, các hình thức biểu hiện như là các triệu chứng bệnh lý, xong về thực chất đó các hình thức ký hiệu của các ham muốn ban đầu.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, lý thuyết của Freud thay đổi. Ông cho rằng đời sống tâm thần của con người có ba cấp.