Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu về ĐCHT Vấn đề ĐCHT chiếm vị trí trung tâm trong các nghiên cứu về hoạt động học tập, có rất nhiều công trình nghiên cứu ĐCHT của các nhà tâm lý học nước ngoài và trong nước. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Trong tâm lý học phương Tây Một số nhà tâm lý học phương Tây đã nêu lên quan điểm của mình về ĐCHT như sau: - E. Theo ông ĐCHT là sự kích thích hướng hành vi đạt tới một kết quả. Cho nên các yếu tố của ĐCHT bao gồm yếu tố bên trong mang tính chủ quan và các yếu tố bên ngoài mang tính khách quan [37, tr. Hull (1943, 1951) cho rằng: động cơ là cần thiết cho quá trình học tập và là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả.
Ông nhấn mạnh vai trò sự căng thẳng trong động cơ và cho rằng việc giảm căng thẳng có ý nghĩa củng cố [22, tr. Bruner cho rằng: cái bắt buộc học sinh phải học có thể được quyết định không chỉ là những mục đích nằm ngoài học tập mà còn có những kích thích nằm ngay trong hoạt động học tập. Vì vậy, nên phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài, vì khi đã đạt được một kết quả nào đó trong quá trình học tập, người học sẽ cảm thấy thỏa mãn với những gì mà mình đã làm và sẽ có ham muốn hướng tới những công việc khó hơn, đó chính là động lực bên trong [73]. Brown (1994), nghiên cứu về ĐCHT ngoại ngữ của học sinh.
Theo ông, nếu không có ĐCHT người học sẽ trở nên trễ nải, kém nhiệt tình và việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn. Ông đưa khẳng định: “ĐCHT chính là sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Nếu người học có động cơ, họ sẽ học được và nếu không có động cơ họ sẽ không học được”[72]. 8 Như vậy, các nhà tâm lý học phương tây đã có một cách nhìn bao quát về vấn đề “ĐCHT”.
Họ đã nêu lên được cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan trong các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó lại đề cao vai trò của các yếu tố do con người tạo nên như thưởng, phạt mà không chú ý nhiều đến các yếu tố môi trường, chủ thể trong việc hình thành ĐCHT. Trong tâm lý học Xô viết - X. Runbinstein khi phân tích ĐCHT, ông mô tả các loại ĐCHT biểu hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú của học sinh.
Theo ông ĐCHT như là mối quan hệ của trẻ đối với cái thúc đẩy trẻ học tập. Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại mô tả các loại ĐCHT trên bình diện chủ quan, mà tác giả chưa chú ý đến mặt khách quan của ĐCHT, cái phản ánh bản chất của ĐCHT [58, tr. Leonchiev với công trình “Sự phát triển ĐCHT của học sinh”cho rằng ĐCHT là sự định hướng của trẻ vào việc lĩnh hội tri thức và đạt được điểm số cao, cũng như để cha mẹ, thầy cô giáo và các bạn khen. Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, ông chia động cơ thành động cơ “hiểu biết” và động cơ “hành động”.
Động cơ “hiểu biết” trong những điều kiện nhất định nào đó sẽ trở thành động cơ “hành động”. Ông cho rằng quá trình học tập của học sinh chỉ có kết quả tốt khi học sinh có thái độ cần thiết đối với quá trình đó. Vì vậy, theo ông thì việc giáo dục ĐCHT không thể tách rời cuộc sống và hoạt động của học sinh [12, tr. Bôgiôvich (1951)cho rằng một hoạt động học tập có mục đích phải được kích thích bằng những động cơ phù hợp.
Đó chỉ có thể là động cơ gắn liền với nội dung học tập, nghĩa là động cơ lấy các phương thức hành động khái quát, hay nói đơn giản hơn là động cơ tự hoàn thiện bản thân [2]. Marcova (1983) nghiên cứu vấn đề “ĐCHT của học sinh”, và khẳng định ĐCHT là một lĩnh vực phức tạp quyết định hành vi của học sinh, lĩnh vực này được hình thành từ nhiều yếu tố luôn luôn thay đổi và thâm nhập vào những mối quan hệ lẫn nhau [12, tr. Alekseeva đã nghiên cứu đặc điểm học tập của học sinh lớp 5 và lớp 8, xác định con đường hình thành ĐCHT tích cực cho học sinh. Ông cho rằng ĐCHT của học sinh chia thành nhóm rất rõ ràng.
Những động cơ khác nhau trong đa số trường hợp có liên hệ qua lại với nhau trong đó có một động cơ là cơ bản, những động cơ kia là thứ yếu [18, tr. Như vậy, các nhà nghiên cứu Tâm lý học Xô Viết đã xác định ĐCHT có ba nguồn gốc: nguồn gốc cá nhân (hứng thú, ham muốn, tâm thế, thái độ, niềm tin, thế giới quan,…); nguồn gốc bên trong (nhu cầu); nguồn gốc bên ngoài (đòi hỏi, mong đợi của xã hội, điều kiện khách quan). Các yếu tố này nếu được gắn liền với hoạt động học tập hoặc với các thành phần của nó (kết quả, mục đích, quá trình ) sẽ trở thành ĐCHT. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Kế thừa những thành tựu của tâm lý học thế giới và thực tiễn tâm lý học nước nhà, Ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐCHT ở đầy đủ các cấp học, bậc học đóng góp tích cực vào lĩnh vực dạy học hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh, SV.
- Năm 1976, Tác giả Đặng Xuân Hoài đã đề cập đến “Vấn đề động cơ và nhân cách” trong các công trình nghiên cứu của mình theo hướng tập trung nghiên cứu sâu hơn vấn đề động cơ nhân cách. Và về sau bà cùng với các cộng sự đã nghiên cứu về động cơ xã hội ở lứa tuổi cấp I, cấp II. Theo bà: “Động cơ xã hội được hình thành từ những quan hệ giao lưu nảy sinh trong quá trình học sinh tham gia các hoạt động tập thể dưới hình thức tự quản với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể” [24, tr. 0T - Tác giả Lý Minh Tiên - Luận văn tốt nghiệp cao học năm 1981.
“Bước đầu 0T xác định một số đặc điểm động cơ trong quá trình giải bài tập của học sinh lớp 10 và 11 ở một số trường phổ thông trung học nội thành TPHCM” [12, tr. - Phạm Thị Đức (1994) với kết quả nghiên cứu của mình đã khẳng định nguyên nhân làm cho động cơ nhận thức của học sinh được hình thành và phát triển 10 ở mức độ cao là ngay từ đầu hành động học tập của học sinh được hướng ngay vào lĩnh hội những khái niệm khởi đầu, cơ bản có tính chất lý luận. Tác giả cho rằng: Động cơ nhận thức là đối tượng của hoạt động học tập, mà đối tượng này được phản ánh vào trong đầu học sinh sẽ thúc đẩy trẻ hoạt động [6, tr. - Nhâm Văn Chăn Con tìm hiểu ĐCHT của học sinh trung học cơ sở ở Lào đã đưa ra kết luận: ĐCHT của học sinh gồm cả những động cơ đối tượng và cả những động cơ quan hệ.
Và khẳng định hoạt động học tập được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ có nội dung khác nhau, có chức năng khác nhau, có vị trí khác nhau trong cấu trúc thứ bậc của động cơ, có ý nghĩa khác nhau với bản thân trẻ [18, tr. - Hội thảo “ĐCHT và phương pháp học hiệu quả” được tổ chức vào tháng 2/ 2002 tại trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo II đã trang bị cho người tham dự hiểu rõ khái niệm và những yếu tố ảnh hưởng đến ĐCHT của học sinh và động cơ làm việc của giáo viên [81]. - Trong công trình nghiên cứu “ĐCHT của SV trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM”(2003), PGS. TS Nguyễn Hồi Loan cho rằng: ĐCHT là cái thường xuyên thúc đẩy, kích thích tính tích cực hoạt động, niềm say mê học tập đối với những tri thức cũng như những phương pháp khám phá ra chúng hoặc vì muốn có một vị thế uy tín trong tập thể, xã hội … ĐCHT luôn góp phần trực tiếp quyết định đến chất lượng học tập ở mỗi SV [34].
- Năm 2004, trong sách Tâm lý sư phạm, Bùi Ngọc Oánh cùng đồng nghiệp đã nói đến ĐCHT như sau: Một số nghiên cứu cho rằng ĐCHT là do bản năng hay do tính cách bẩm sinh để thỏa mãn nhu cầu học tập gọi là “động lực thúc đẩy nội tâm”. Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng ĐCHT của học sinh là do những yếu tố ngoại lai như sự khuyến khích của cha mẹ, thầy cô, áp lực của xã hội, tương lai nghề nghiệp được gọi là “động lực thúc đẩy ngoại thức”[46, tr. - Nguyễn Kế Hào (2005) đã chia ĐCHT của học sinh thành hai loại: Động cơ bên ngoài là những động cơ có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai, liên quan đến trách nhiệm và nghĩa vụ, liên quan đến kết quả học tập và với yêu cầu của 11 người lớn; Động cơ bên trong là động cơ có liên quan trực tiếp đối với nội dung học tập với phương pháp lĩnh hội tri thức [65, tr. - Khi nghiên cứu “ĐCHT của SV khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội”, Thạc sĩ Dương Thị Kim Oanh (Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội) (2008) cho rằng: “Những động cơ mang tính định hướng cụ thể, rõ ràng (động cơ tự khẳng định, động cơ nghề nghiệp) được SV đánh giá cao hơn và hướng tới nhiều hơn so với những động cơ mang tính định hướng chung và khái quát (động cơ nhận thức khoa học)” [43, tr.
- Năm 2009, nghiên cứu của Trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục TPHCM được thực hiện ở 4 thành phố lớn: TPHCM , Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐCHT của học sinh, SV không đúng đã dẫn đến hiện tượng quá tải, quá thiên về lý thuyết như hiện nay. - Trong giáo trình Tâm lý học Sư phạm Đại học (tái bản lần thứ hai), năm 2009, theo Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thạc: Tất cả sự kiện, vật chất, hoàn cảnh hay hành động đều có thể trở thành động cơ nếu chúng liên quan đến nguồn gốc tích cực của con người. Và để hình thành có hiệu lực ĐCHT cho SV, người cán bộ giảng dạy cần phân tích rõ ý nghĩa nghề nghiệp của SV đã chọn, những yêu cầu của nghề đó với nhân cách [56, tr.