MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Mỗi con người sống trong xã hội đều có những mặt mạnh của riêng mình hay còn gọi là sở trường cá nhân. Mỗi người đều có sự khác biệt về sở thích và năng lực, vì vậy việc khám phá, định hướng và sử dụng đúng năng lực tiềm ẩn sẽ giúp họ thành công hơn trong cuộc sống. Định hướng nghề nghiệp đối với sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường đại học sẽ giúp chọn lựa được đúng ngành nghề mà mình yêu thích, phù hợp với năng lực và khả năng làm việc của bản thân mỗi người.
Định hướng việc làm phù hợp cũng là con đường đi tới tương lai tươi đẹp, giúp cho sinh viên học tập say mê hơn và cũng có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi đã hoàn thành chương trình đào tạo ở bậc đại học, bởi lẽ có được một công việc đúng sở trường, đúng chuyên môn không những giúp cho họ thành công hơn trong nghề nghiệp mà còn giúp cho chất lượng cuộc sống của họ được đảm bảo, bằng đúng nghề nghiệp mà họ đang theo đuổi. Tuy nhiên, trên thực tế hàng năm số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) và Đại học Công Đoàn rất đông nhưng số sinh viên làm không đúng chuyên môn được đào tạo còn rất phổ biến. Lý do dẫn đến thực tế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng một trong số những nguyên nhân mà tôi muốn bàn đến ở đây là việc định hướng việc làm của mỗi cá nhân chưa dựa trên đặc điểm về năng lực thực sự của mỗi sinh viên. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, vấn đề việc làm không chỉ là vấn đề chiến lược của mỗi quốc gia, mà còn là điều kiện quan trọng để quốc gia đó hội nhập dễ dàng hơn với thế giới.
Như vậy, việc làm không chỉ là vấn đề sống còn có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại và 1 z phát triển của mỗi cá nhân con người trong xã hội, mà còn là vấn đề mang tính chiến lược của mỗi quốc gia trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay. Từ những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Định hướng việc làm cho sinh viên ngành Xã hội học (nghiên cứu trường hợp tại Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn & Trường Đại học Công Đoàn” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình, dựa trên những điều còn trăn trở của sinh viên ngành Xã hội học về việc làm sau khi họ tốt nghiệp đại học và bản thân cũng muốn làm rõ hơn những quan điểm, suy nghĩ của sinh viên Khoa Xã hội học về định hướng việc làm khi họ phải đối diện với bối cảnh xã hội “người khát việc” như hiện nay. Tổng quan nghiên cứu Định hướng việc làm cho sinh viên không chỉ là mối quan tâm của các bậc phụ huynh, của chính sinh viên, của nhà trường, mà còn là vấn đề đang được cả xã hội quan tâm. Các bậc phụ huynh sau 4-5 năm đầu tư cho con em họ đi học hồi hộp chờ đợi kết quả của chính mình và con em mình, nhà trường mong chờ thành quả đào tạo ra những sản phẩm nhân lực chất lượng cao cho xã hội và cũng trên cơ sở đó có thể giúp các nhà hoạch định chính sách và quản lý xã hội có cái nhìn toàn diện và hệ thống về vấn đề việc làm và tư vấn giúp cho Nhà nước từng bước tháo gỡ bài toán việc làm, giảm thiểu tình hình thất nghiệp hiện nay.
Một thực tế cho thấy, khác hẳn với thời kỳ trước đổi mới, hiện nay các nghiên cứu về định hướng việc làm đã và đang nhận được sự quan tâm hơn của các bộ, ban, ngành, nó như một biểu hiện của trật tự xã hội. Điều đó được thể hiện thông qua các đề tài nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, các hội thảo về định hướng việc làm, giúp sinh viên có cơ hội và thông tin để định hướng việc làm cho mình một cách hiệu quả hơn. 2 z Qua khảo sát các nguồn tài liệu nghiên cứu ở trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy có những tác phẩm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu như sau: i. Nghiên cứu ngoài nƣớc Định hướng việc làm luôn là một trong những chủ đề được quan tâm nhất đối với đối tượng là học sinh, sinh viên.
Nhằm giúp tự định hướng cho nghề nghiệp tương lai của mình, bộ công cụ trắc nghiệm định hướng việc làm của nhà tâm lý học John Holland được sử dụng [39]. John Holland dựa vào 8 luận điểm trong bộ công cụ của mình. Hai luận điểm đầu theo ông là hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu người, 6 kiểu người đó là Realistic (tạm dịch là Người thực tế, viết tắt là R), Investigate (Nghiên cứu – I), Artistic (Nghệ sĩ tính – A), Social (người có Tính xã hội – S), Enterprising (Thiên phú lãnh đạo, điều hành –E) và Conventional (mẫu người Công chức – C). Theo ông có 6 môi trường hoạt động ứng đúng với 6 kiểu người kể trên.
Lý thuyết này về sau lấy 6 chữ cái ghép lại thành cái tên RIASEC. Bộ trắc nghiệm này giúp tự phát hiện các kiểu người trội nhất đang tiềm ẩn trong con người mình để tự định hướng khi lựa chọn nghề. Trong bài viết Career planning (Định hướng nghề nghiệp) của Giáo sư John Vũ, Đại học Carnegie Mellon [40] nhận định rằng, định hướng việc làm là quá trình giúp sinh viên xác định những điểm mạnh, điểm yếu, hứng khởi và khả năng của họ để xác định việc thích hợp cho họ để phát triển tri thức và kĩ năng được yêu cầu để đạt tới mục tiêu việc làm của họ. Ngày nay, điều quan trọng là sinh viên đại học đặt ra chiều hướng và mục đích việc làm sớm nhất có thể được để cho họ có thể chọn lựa.
Nó là tương lai của họ và không ai có thể làm điều đó cho họ hay ra quyết định cho họ được. Cũng qua nghiên cứu của mình ông đưa ra các bước đơn giản mà bạn có thể dùng để định hướng việc làm. 3 z DE Mitchell, FI Ortiz, TK Mitchell trong cuốn Work Orientation and Job Performance: The Cultural Basis of Teaching Rewards and Incentives [35] đã tập trung nghiên cứu định hướng việc làm trong lĩnh vực giáo dục và vai trò của giáo dục nhà trường đối với định hướng việc làm của sinh viên trong tương lai cũng như giá trị mà định hướng việc làm đem lại đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Dựa trên dữ liệu thu thập được về các giáo viên tiểu học, hiệu trưởng, và quản trị văn phòng, tác giả rút ra các khái niệm văn hóa hơn là kinh tế hay tâm lý nhằm giải thích làm thế nào các nhà giáo dục trở thành định hướng đến trách nhiệm công việc của họ.
Cũng nghiên cứu về chủ đề này, nhà xã hội học Bengt Furåker Kristina Håkansson Jan Ch Karlsson trong cuốn Commitment to Work and Job Satisfaction: Studies of Work Orientations [24] cho rằng định hướng công việc và thái độ đối với việc trả tiền của người dân là rất quan trọng đối với hạnh phúc của bất cứ nước nào. Tuy nhiên, điều ít được biết hiện nay về hành vi định hướng giữa các quốc gia, giới (nam giới, nữ giới), nghề nghiệp, lứa tuổi có cách tiếp cận về việc làm khác nhau. Thậm chí còn ít được biết đến về cách định hướng công việc đã thay đổi trong quá trình biến đổi xã hội mạnh mẽ của nền kinh tế và thị trường lao động trong các thập kỷ gần đây. Điều gì đã xảy ra, ví dụ, để làm việc định hướng trong khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển hay suy thoái? Câu trả lời một phần nằm trong định hướng việc làm.
Hoặc, có thật là công việc đang mất dần vị thế của mình trong cuộc sống con người trong thế giới toàn cầu? Mối quan hệ giữa thái độ của người dân để làm việc và cách thức họ thực sự hành xử trên thị trường lao động là gì? Cuốn sách này được ra mắt độc giả kịp thời với những câu hỏi - và nhiều hơn nữa là kiến thức mới về những thay đổi trong định hướng làm việc tại nhiều quốc gia. Nó được dựa trên lập luận lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng. Nó là tài liệu có giá trị trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về định hướng công việc và những thay đổi trong thái độ làm việc. 4 z Trong nghiên cứu Work after Globalization: Building Occupational Citizenship của Guy Standing chuyên gia về an ninh kinh tế, trường Đại học Bath, UK [26] đã đưa ra cách tiếp cận mới về việc làm và con người, ông bác bỏ một số định hướng công việc trong thế kỷ XX do xu thế toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt.
Định hướng công việc của con người có khi khó đáp ứng hay tương thích với sự biến đổi của xã hội. Việc làm và lao động đang được cách mạng hóa bởi quá trình toàn cầu hóa đã cho ra đời cấu trúc xã hội, tầng lớp mới, cũng như sự gia tăng bất bình đẳng, không bền vững và khủng hoảng. Guy Standing lập luận chống lại phản ứng chính sách áp đặt trong chủ nghĩa quân bình để xây dựng thành công dân lao động, dựa trên chế độ tự do và đảm bảo thu nhập cơ bản mà trong đó tất cả các hình thức việc làm đều có thể phát triển. Cuốn sách nhìn lại việc sửa đổi hay dỡ bỏ luật lao động và định hướng lại việc làm theo hướng 'hợp tác thương lượng', để phản ánh những thực tế mới, trong đó mối quan hệ giữa các nhóm lao động như hoặc quan trọng hơn trong công việc của người dân sống như những người giữa người lao động và khả năng làm việc cũng như thu nhập của người lao động.
Nghiên cứu trong nƣớc Đề tài Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [7] đã đề cập đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.