chương I về hình thái và sự tác động của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay. Khẳng định trong lịch sử tư tưởng nước ta có thời kỳ một học thuyết tư tưởng hoặc một đạo giữ vai trò thống trị xã hội như Phật giáo ở thế kỷ X - XIV. Nho giáo ở thế kỷ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ thập kỷ 40 của thế kỷ XX đến nay. Nhưng chưa bao giờ xảy ra hiện tượng chỉ có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo chi phối toàn bộ đời sống tinh xã hội.
Các học thuyết tư tưởng, các tôn giáo, các tín ngưỡng hiện đang tồn tại ở nước ta thì có nhiều, nhưng có thể chia ra làm 4 loại chủ yếu: các học thuyết truyền thống, các tôn giáo và tín ngưỡng xưa nay, các trào lưu tư luan an 18 tưởng tư sản phương Tây cận hiện đại, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết lớn nhất, là tư tưởng lãnh đạo xã hội ta ngày nay. Nguyễn Văn Bốn viết bài Hệ giá trị tinh thần truyền thống của Người Việt trong thời hội nhập [13] bài viết này tìm hiểu giá trị tinh thần truyền thống và xác định những truyền thống nào có ý nghĩa trong thời kỳ hội nhập. Theo tác giả hệ giá trị tinh thần tốt của người Việt được kế thừa phát huy và góp phần mang lại những thành tựu trong các lĩnh vực của đời sống trong thời kỳ đổi mới.
Ngược lại, có những thói hư tật xấu của người Việt đang cản trở và tác động xấu đối với sự phát triển của xã hội. Như hệ giá tinh thần truyền thống tốt của người Việt như: yêu nước, cần cù, sáng tạo, anh hùng, lạc quan, thương người, vì nghĩa, ham học, yêu hòa bình, nhẫn nhịn… Tác giả dẫn chứng những thói xấu của người Việt nhìn dưới góc độ phản giá trị như: không bền chí, nông nổi, hay thất vọng, hay khoe khoang, ưa hư danh, tinh vặt, sự vụ lợi, tò mò, vô kỷ luật, thờ ơ, lười biếng, thích hưởng thụ… Trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp cho hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt để hệ giá trị tinh thần truyền thống của người Việt trở thành bản sắc văn hóa, là nền tảng vững chắc cho Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững. Trần Văn Bính viết bài Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội nước ta trước tác động của nền kinh tế thị trường [9] tác giả cho rằng có một thực tế ở nước ta cũng như nhiều nước khác là sự phát triển của đời sống vật chất đã không tỷ lệ thuận với đời sống văn hóa tinh thần và các giá trị đạo đức xã hội cần có để phát triển hài hòa và bền vững. Tác động của tính chất hai mặt của kinh tế thị trường ở nước ta cho thấy đời sống vật chất của xã hội được nâng lên, cải thiện rõ rệt, nhưng đời sống tinh thần, đạo đức xã hội thì xuống cấp, một trong những nguyên nhân quan trọng là do chúng ta chậm nhận thức ra mặt trái của kinh tế thị trường.
luan an 19 Văn Đức Thanh viết bài Tác động khách quan của tiêu chí nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội [151] đã khẳng định tác động của tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội nước ta được biểu hiện đa dạng trên rất nhiều nội dung và mọi phương diện, lĩnh vực xã hội thông qua quá trình thực hiện các chức năng xã hội của Nhà nước, từ phương diện chính trị, kinh tế đến văn hóa… Tác động của tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm cho phương diện văn hóa của đời sống xã hội nước ta phát triển theo hướng khuyến khích sự sáng tạo những giá trị văn hóa tiên tiến, khơi thông sức sống từ chiều sâu lịch sử truyền thống dân tộc và tăng khả năng tích hợp tinh hoa văn hóa nhân loại của nền văn hóa dân tộc. Tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn tác động đến nhiều phương diện khác của đời sống xã hội nước ta như đạo đức, tín ngưỡng tôn giáo, ý thức dân tộc… Song, nhìn chung một cách tổng quát, sự phát triển các phương diện đời sống xã hội dưới tác động của tiêu chí đó đạt hiệu quả cao khi các chức năng của Nhà nước được thực hiện thống nhất. Các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần người dân đồng bằng sông Hồng Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Bảy, Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ [6] có cách tiếp cận khá độc đáo về văn hóa Phật giáo châu thổ Bắc bộ từ góc độ vật chất, tinh thần và văn hóa ứng xử. Tác giả rất sâu sắc khi nhận định rằng: “Đã có một thời gian dài với người Việt, đạo Phật như một cứu cánh của những tâm hồn đau khổ, đạo Phật trở thành hệ tư tưởng dẫn đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập, là một tác nhân trong mối liên kết các thành phần dân tộc” [6, tr.
Hơn thế nữa, khi đánh giá vai trò của đạo Phật đối với đời sống tinh thần của người dân Việt, tác giả cho rằng, “với giáo lý cơ bản của nó, đạo luan an 20 Phật luôn đặt một trọng tâm vào việc giáo dục thiện tâm, tính nhân bản, làm cho mọi điều tốt lành cho mình và cho mọi người” [6, tr. Trong đời sống tinh thần, tác giả đã khai thác những khía cạnh quan trọng về thế giới quan, cuộc sống của con người sau cái chết, và khi chết đi, trong các đám tang cổ truyền của người Việt trước khi mai táng ở nhà có thỉnh sư và các vãi đến tụng kinh, hành lễ; khi đưa ma thì từ xưa cho đến nay, vẫn còn nhiều đám ma có sư vãi đi trước, vãi mang phướn, sư sãi tay cầm tràng hạt niệm Phật, cầu cho người chết được siêu sinh nơi Tây phương cực lạc. Khi đến mộ, các sãi - vãi chăng vải như tượng trưng cho sự bắc cầu cho vong từ thế giới bên này sang thế giới bên kia. Cuốn Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy [41] đã đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa hữu hình và văn hóa tinh thần của người Việt.
Theo tác giả, những nếp nghĩ, nếp sống theo Phật giáo của của người dân Việt, được biểu hiện ra ý thức tư tưởng, quan niệm nhân sinh, đời sống chính trị, nếp sống đạo đức, đời sống tâm linh, quan niệm sinh tử, tục lệ tang ma, lễ hội, và mảng lớn của Phật giáo để lại cho nền văn học với triết lý về Phật. Khi nói về Phật giáo với quan niệm nhân sinh, tác giả đã nghiên cứu con người hữu tình nhân sinh, con người nghiệp kiếp, con người bể khổ, con người tu hành thoát khổ,… Tác giả cho rằng, nói về Phật giáo ở Việt Nam có tư tưởng nhập thế, ta có thể hiểu theo hai cách: Một là, nó hòa đồng được vào sự hỗn dung tín ngưỡng của người Việt (Kinh), để bản thân nó có thể mở rộng, tồn tại lâu dài. Hai là, trong từng thời kỳ, nó hòa đồng được vào văn hóa chính trị của đất nước, và lâu dài, nó hòa đồng được vào với văn hóa đạo đức và đời sống tâm linh của người Việt (Kinh) [41, tr. Hơn thế nữa, tác giả cũng rất sâu sắc cho rằng, Phật giáo ảnh hưởng đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam nói chung và người dân đồng luan an 21 bằng sông Hồng nói riêng, đó là góp phần nuôi dưỡng tinh thần bình đẳng, sự hòa quyện giữa Phật giáo với chính trị, mà biểu hiện rõ nét là trong thời kỳ Lý - Trần, Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo, ảnh hưởng đối với đời sống tinh thần của người dân đồng bằng sông Hồng.
Công trình nghiên cứu của Phạm Văn Dần Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay (Qua khảo sát một số tỉnh trọng điểm) [31] đã phân tích ảnh hưởng của Phật giáo trên một số lĩnh vực chủ yếu, đó là tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phong tục tập quán… Tác giả cũng nhận xét rằng: Thuyết từ bi, cứu khổ và đặc biệt là những hành động thực tế của các môn đồ nhà Phật ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã thu hút được sự quan tâm và chiếm được tình cảm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đây cũng chính là một trong nhiều lý do mà ngày càng có nhiều người đến với Phật giáo hơn [31, tr. Đối với vùng đồng bằng Bắc bộ, tác giả cho rằng, từ lâu trong lịch sử, Phật giáo đã ăn sâu vào cuộc sống tâm linh của cộng đồng làng xã. Chùa Phật đã trở thành chùa làng “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”, trở thành nơi giải trí của người dân “trẻ vui nhà, già vui chùa”.
Sinh hoạt Phật giáo đã trở thành một sinh hoạt văn hóa thường nhật của người dân. Sự gần gũi, hòa nhập của Phật giáo với đời sống thường nhật của người dân đến mức quên đi cả giới hữu hạn giữa đời sống trần tục và đời sống thiêng trong tôn giáo “gần chùa gọi Bụt bằng anh” [31, tr. Hoàng Thị Lan, trong công trình nghiên cứu Ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay [103] trên cơ sở khái quát về Phật giáo và đặc điểm Phật giáo Việt Nam đã phân tích những ảnh hưởng của Phật giáo đối với một số phương diện của lối sống người Việt Nam hiện nay như trong cách thức lao động và tổ chức sản xuất, trong phong tục tập luan an 22 quán, trong giao tiếp, ứng xử, trong đạo đức và nhân cách của người Việt Nam. Từ đó tác giả cũng có những dự báo về xu hướng vận động của Phật giáo và những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay.
Tác giả cho rằng: Một bộ phận người Việt tin rằng, cuộc đời là thoáng qua, phù hoa, giả tạo nên không muốn dấn thân, không muốn đua chen. Ở các vùng Phật giáo trọng điểm, đa phần các tín đồ đều cảm thấy luôn tự hài lòng với những gì mình có, an phận với cuộc sống thanh đạm, nhàn nhã. Tính an phận thủ thường trong Phật giáo làm cho nhiều vùng có đông tín đồ Phật giáo thường có trình độ kinh tế - xã hội thấp hơn so với mặt bằng chung của xã hội [103, tr.