Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Nội dung tƣ tƣởng Phật giáo của Tuệ Trung Thƣợng Sĩ Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tƣ tƣởng Phật giáo của Tuệ Trung Thƣợng Sĩ 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Vài nét về Phật giáo thời Lý – Trần Phật Giáo xuất hiện trên thế giới có chiều dài lịch sử nhiều ngàn năm, khởi thủy từ Ấn Độ, sau đó truyền sang nhiều nƣớc khác. Khoảng cuối thế kỷ I sau Công nguyên, Phật giáo truyền từ Ấn Độ vào nƣớc ta bằng đƣờng biển. Qua sự tiếp xúc với những sinh hoạt tín ngƣỡng đơn sơ của các thủy thủ, thƣơng gia Ấn Độ nhƣ thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh,… lại có sự viếng thăm, truyền đạo của các tăng sĩ Ấn Độ đi theo thƣơng thuyền, trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ (nay thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) đƣợc thiết lập, trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam.
Từ thế kỷ X – XIV, Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ, đạt đến cực thịnh ở hai thời Lý – Trần. Phật giáo đƣợc coi là quốc giáo, ảnh hƣởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Về chính trị, đây là thời kì Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Nhiều nhà sƣ, cƣ sĩ tham gia triều chính, không ngại dấn thân vào cuộc đời hoằng hóa nhƣ: Vạn Hạnh, Pháp Thuận, Khuông Việt, Tuệ Trung,… Nếu nhƣ các thiền sƣ đời Lý giúp vua trong công tác giáo dục, ngoại giao, xin ý kiến, công việc triều đình thì đến đời Trần, tình trạng đã có sự thay đổi.
Các vị vua đời Trần đã là những ngƣời am hiểu Đạo Phật và có nền tảng Phật học vững chắc. “Họ ủng hộ Phật giáo một phần vì họ là Phật tử, một phần có lẽ cũng vì muốn liên kết nhân tâm trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước” [9, 481]. Tinh thần yêu thƣơng và hiểu biết là cốt lõi của Đạo Phật đã ảnh hƣởng đến cách vận hành chính trị theo lối từ bi, khoan dung của triều đình, tạo nên một đời sống thuần từ, đẹp đẽ trong nhân dân. Có thể kể đến Vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) – một ông vua nhân từ và yêu mến đạo Phật.
Trong “Việt Nam sử lược”, Trần 7 Trọng Kim có kể lại lời vua Thánh Tông: “Lòng Trẫm yêu dân như yêu con Trẫm vậy; Trẫm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, Trẫm lấy làm thương lắm; vậy từ rày về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi” [8]. Tuy nhiên cách “trị quốc” của các vị vua đời Lý – Trần không vì thế mà rơi vào thái độ nhu nhƣợc hay tiêu cực. Khi vận mệnh tổ quốc bị đe dọa, họ sẵn sàng mặc áo giáp xông pha trận mạc. Hội Nghị Diên Hồng do Trần Nhân Tông triệu tập đã nói lên đƣợc sự đồng tâm nhất trí của vua dân thời bấy giờ.
Một lời đồng thanh “Đánh” không chỉ là tiếng nói của ý thức tự chủ mà còn thể hiện tinh thần tự cƣờng tự lực của cả dân tộc trong thời đại Phật giáo thống nhất đời Trần. Về văn hóa, dấu ấn Phật giáo đã in hằn rõ nét qua nhiều công trình kiến trúc và điêu khắc. Nhiều chùa tháp có quy mô lớn, kết cấu độc đáo đƣợc xây dựng: Chùa Chân Giáo (1024), chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột, 1049), chùa Lãm Sơn (1086),… Đặc biệt, thời kì này nổi tiếng với bốn công trình đƣợc gọi là “An Nam tứ đại khí”, bao gồm: Tháp Báo Thiên chùa Sùng Khánh, tƣợng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh. Những công trình mỹ thuật của Phật giáo không chỉ có giá trị quan trọng trong thời đại đó mà còn để lại dấu ấn văn hóa cho đến ngày nay.
Nền chính trị từ bi và khoan dung thời Lý – Trần đã mở cửa cho văn học đạt nhiều thành tựu, đặc biệt là văn học Phật giáo. “Văn học đời Trần rực rỡ và phản chiếu tinh thần từ ái, hòa đồng, thanh thoát của Đạo Phật” [9, 502]. Nhiều tác giả văn học là các thiền sƣ, do đó thi ca thời kì này ảnh hƣởng Thiền sâu đậm, tạo nên phong vị rất riêng, không dễ nhầm lẫn so với thơ ca các giai đoạn khác. Chính sách tiêu diệt văn hóa thâm độc của nhà Minh đã phá hoại nhiều gia tài tinh thần của Triều Trần, điển hình nhƣ “Viên Thông tập” của thiền sƣ Viên Thông, khoảng 1000 bài nhƣng đến nay không còn.
8 Nhiều bài thơ giữ lại đƣợc cho đến ngày nay là nhờ cuốn “Thiền Uyển Tập Anh”, ghi lại các tông phái Thiền học, hành trạng các vị thiền sƣ nổi tiếng với nhiều bài thơ, kệ có giá trị văn học. Ngoài ra cũng phải kể đến các bộ lục là những tài liệu biên chép hành trạng và trƣớc tác của các vị thiền sƣ, cƣ sĩ tại gia đắc đạo nhƣ: “Thánh Đăng Lục” ghi chép sự nghiệp tu học của năm ông vua đời Trần, “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” ghi chép hành trạng và trƣớc tác của cƣ sĩ Tuệ Trung, “Tam Tổ Thực Lục” ghi chép những câu chuyện liên quan đến Tam Tổ phái Trúc Lâm Yên Tử. Tóm lại, thời kì Lý – Trần là thời kì hƣng thịnh của Phật giáo Việt Nam. Đạo Phật ăn sâu, bám rễ vào tƣ tƣởng, lối sống cho đến các vấn đề chính trị, xã hội của quốc gia.
Đặc biệt về lĩnh vực văn học, các trƣớc tác kinh điển của nhiều thiền sƣ là ngọn nguồn vô tận khơi gợi cảm hứng sáng tác, tạo nên diện mạo nền văn học Lý – Trần mang đậm màu sắc Phật giáo. Tuệ Trung Thƣợng Sĩ – hành trạng và trƣớc tác 1. Hành trạng Tuệ Trung Nghiên cứu về hành trạng Tuệ Trung, cần thiết phải nhắc lại sự nhầm lẫn tên của Tuệ Trung với một nhân vật khác trong lịch sử. Cụ thể, bắt đầu từ cuốn sách “Hoàng Việt văn tuyển”, tác giả Bùi Huy Bích (1744 – 1818) đã viết Tuệ Trung có tên là Trần Quốc Tảng, con lớn của Hƣng Đạo Đại Vƣơng Trần Quốc Tuấn.
Sự nhầm lẫn về tiểu sử này khiến cho một thời gian dài, cuộc đời và sự nghiệp của Tuệ Trung bị rơi vào quên lãng. Đến năm 1973 tại Sài Gòn, tác giả Nguyễn Lang đã công bố tìm ra tên thật của Tuệ Trung Thƣợng Sĩ trong cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận tập 1”. Trong thời gian này thì ở Hà Nội, nhóm nghiên cứu Thơ văn Lý – Trần của Viện Văn học cũng đạt kết quả đó. Tuệ Trung Thƣợng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung (1230 – 1291), là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vƣơng 9 (Trần Liễu), anh của Hƣng Đạo Vƣơng Trần Quốc Tuấn và là anh cả của Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm – vợ vua Trần Thánh Tông.
Từ khi còn nhỏ, con ngƣời Tuệ Trung đã toát lên khí chất cao siêu, phong thái nhàn nhã, lại có lòng yêu mến đạo Phật, tìm sự giác ngộ của mình ngay chính cuộc đời bụi bặm nơi trần thế. Tuệ Trung học đạo thiền sƣ Tiêu Dao tại tinh xá Phƣớc Đƣờng, ngộ đƣợc lý Thiền, Ngài vừa chuyên tâm tu hành ngay trong đời sống gia đình, vừa có trách nhiệm tham gia vào các công việc xã hội mà triều đình giao phó. Trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lƣợc (1257 – 1258, 1285), Trần Tung đều đƣợc cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ. Lại là ngƣời trí tuệ cao siêu, dũng cảm và có tài ngoại giao khéo léo, trong cuộc chiến chống quân xâm lƣợc Nguyên Mông lần 3 (1287 – 1288), Trần Tung làm sứ giả vào trong sào huyệt địch để thƣơng thuyết, giả hàng, thực hiện kế hoãn binh cho vua tôi nhà Trần và nhân dân thành Thăng Long bảo toàn tính mạng.
Con ngƣời Tuệ Trung bản lĩnh, khí lƣợng thâm trầm đƣợc thiền sƣ Pháp Loa (1284 – 1330) ca ngợi: “Á! Thần cƣơng đả tựu Sinh thiết chú thành Xích thiên thốn địa Nguyệt bạch phong thanh Đốt!” Con ngƣời Tuệ Trung đƣợc ví nhƣ “gang ròng, sắt sống”, dẫu lấy “thƣớc trời tấc đất” cũng không đo lƣờng hết. Vua Trần Thánh Tông khâm phục đạo học của Tuệ Trung, tôn làm đạo huynh, tặng hiệu cho ông là “Thƣợng Sĩ” – tiếng gọi khác của từ Bồ tát – là bậc hành giả viên mãn, sống lợi mình, lợi ngƣời đồng thời ký thác vua Trần Nhân Tông cho Ngài dạy bảo. 10 Sau ngày kháng chiến thắng lợi, Trần Tung đƣợc phong Tiết Độ Sứ, trấn giữ Thái Bình. Sau đó không lâu, Thƣợng Sĩ lui về ấp Tịnh Bang và đổi tên lại là Vạn Niên (nay là làng Yên Quảng, huyện Vĩnh Lại), tự hiệu là Tuệ Trung, tham cứu Phật học và hành sâu giải thoát.
Sống giữa cuộc đời tự do phóng khoáng, không câu nệ chấp trƣớc, Tuệ Trung Thƣợng Sĩ sống trọn vẹn tinh thần tự giác và giác tha trong thời kì hƣng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Tuệ Trung Thƣợng Sĩ là tấm gƣơng sáng không chỉ đối với Phật giáo thời Trần mà còn có ảnh hƣởng không nhỏ đối với không khí học thuật của Phật giáo Việt Nam nói chung. Quả thật xứng đáng nhƣ lời Nguyễn Lang: “Hành tung của Tuệ Trung chỉ có thể là hành tung Tuệ Trung, chẳng ai có thể bắt chước mà trở nên một Tuệ Trung được” [9, 332]. Trước tác So với các tác giả cùng thời, số lƣợng trƣớc tác của Tuệ Trung để lại tƣơng đối nhiều, tuy nhiên không đƣợc chú thích mốc thời gian cụ thể nên do đó không chia thành các giai đoạn nhƣ vẫn thực hiện đƣợc với nhiều tác giả.
Trƣớc tác Tuệ Trung tập hợp trong cuốn “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” (gọi tắt là “Thượng Sĩ Ngữ Lục”), do Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ghi chép, Thiền sƣ Pháp Loa khắc bản in. “Thượng Sĩ Ngữ Lục” nằm trong bộ “Trần Triều dật tồn Phật điển lục” – là bộ Phật điển còn sót lại của đời nhà Trần. Các trƣớc tác của ông có giá trị lớn không chỉ đối với kho tàng văn hóa Phật giáo nói riêng mà còn đóng góp không nhỏ cho văn hóa dân tộc nói chung. “Thượng Sĩ Ngữ Lục” gồm ba phần: Phần thứ nhất là “Ngữ lục” gồm Đối cơ và Tụng cổ.
“Đối cơ” là tập hợp những mẩu đối thoại giữa Tuệ Trung Thƣợng Sĩ với các thiền sinh tham vấn học hỏi các chủ đề liên quan đến Phật giáo. Qua các cuộc vấn đáp và giảng giải đó nhằm khai ngộ cho ngƣời học đạo. “Tụng cổ là những lời Phật 11 dạy trong kinh, hay những lời khai thị của các vị cổ đức trong nhà Thiền, rất khó hiểu khó hội. Thượng Sĩ đem ra tụng giải để cho người hiểu, nên gọi là Tụng cổ” [19, 211].