Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thành phố Hà Nội sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú với 5.922 di tích lịch sử văn hóa (trong đó 2.396 di tích đã được xếp hạng, gồm 01 di sản văn hóa thế giới, 12 di tích quốc gia đặc biệt, 1.182 di tích quốc gia, 1.202 di tích cấp thành phố) và 1.793 di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm 1.206 lễ hội. Đồng thời, Hà Nội tập trung khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề (chiếm 1/3 tổng số khoảng 5.400 làng nghề cả nước), với hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu. Công tác bảo tồn di sản và quản lý lễ hội đã được định hướng qua các văn bản như Quyết định số 1230/QĐ-TTg ngày 15/7/2021, Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021, Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội và Quyết định số 2139/QĐ-BVHTTDL ngày 16/7/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Tuy nhiên, dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học, công tác quản lý lễ hội truyền thống làng nghề bộc lộ nhiều bất cập: vai trò thiết kế và điều chỉnh qua kiểm tra, giám sát của Nhà nước chưa chặt chẽ; sự phối hợp giữa Nhà nước và cộng đồng còn hạn chế; một số nơi cộng đồng bị quá tải vai trò khi phải tự đảm nhận hầu hết các khâu tổ chức, dẫn đến quyền lợi và nghĩa vụ chưa đạt sự đồng thuận cao. Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về di tích và lễ hội Hà Nội, việc nghiên cứu quản lý lễ hội truyền thống làng nghề dưới lăng kính liên ngành của lý thuyết vai trò vẫn là một khoảng trống khoa học tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá vai trò của các chủ thể quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý loại hình lễ hội này.

Luận án xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
  2. Xây dựng khung phân tích của luận án.
  3. Đánh giá vai trò của các chủ thể trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua.
  4. Xem xét những vấn đề đặt ra từ thực trạng dưới góc nhìn của lý thuyết vai trò, khoa học quản lý, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Hệ thống 04 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Nhà nước và cộng đồng có vai trò như thế nào trong quản lý lễ hội làng nghề truyền thống làng nghề?
  2. Tương tác vai trò của Nhà nước và cộng đồng có ảnh hưởng như thế nào đến quản lý lễ hội truyền thống làng nghề? Có những điểm khác biệt nào trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống làng nghề?
  3. Những vấn đề đặt ra khi thực hiện vai trò của từng chủ thể? Liệu có xuất hiện quá tải vai trò khi vai trò của cộng đồng ngày càng tăng?
  4. Cần những giải pháp nào để nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề?

Hệ thống 05 giả thuyết nghiên cứu:

  1. Nhận thức của Nhà nước và cộng đồng về giá trị của lễ hội truyền thống làng nghề càng tốt thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
  2. Nếu có sự đồng thuận giữa vai trò của Nhà nước và vai trò của cộng đồng thì sẽ nâng cao được vai trò quản lý lễ hội làng nghề truyền thống của cả Nhà nước và cộng đồng.
  3. Vai trò định hướng, thiết kế, duy trì và thúc đẩy lễ hội truyền thống làng nghề càng được phát huy tốt thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
  4. Cộng đồng càng tự chủ, chủ động, tích cực, phối hợp với nhau tốt thì càng nâng cao được vai trò quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
  5. Đã có sự xuất hiện dấu hiệu quá tải vai trò của cộng đồng khi Nhà nước tham gia ít hơn vào quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề được tổ chức ở quy mô cấp phường/xã, quận/huyện, thành phố theo 4 nhóm loại hình làng nghề khác nhau.
  • Phạm vi nội dung: Vai trò của Nhà nước và cộng đồng thể hiện qua hoạt động quản lý lễ hội truyền thống làng nghề (không nghiên cứu các bên liên quan khác).
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào 04 lễ hội đại diện cho 4 mô hình:
    1. Lễ hội Đình Kim Ngân, phố Hàng Bạc (quận Hoàn Kiếm, Ba Đình): đại diện mô hình lễ hội truyền thống phố nghề.
    2. Lễ hội làng nghề Lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông): đại diện mô hình lễ hội truyền thống làng nghề thương mại liên vùng.
    3. Lễ hội làng nghề Gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm): đại diện mô hình lễ hội truyền thống làng nghề thương mại - du lịch.
    4. Lễ hội làng pháo Bình Đà (huyện Thanh Oai): đại diện mô hình lễ hội truyền thống làng nghề nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực tế thu thập từ năm 2015 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu liên quan

Tác giả đã tổng hợp tài liệu nghiên cứu theo 4 nhóm chính:

  1. Nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội:

    • Tác giả quốc tế: Donald Getz, Tommy Andersson và Mia Larson (2006) khảo sát 7 lễ hội tại Calgary (Canada) và 6 lễ hội tại Thụy Điển, chỉ ra vai trò điều phối, phân bổ nguồn lực công của chính quyền; Andersson và Getz (2008) chỉ ra mức phụ thuộc vào Nhà nước tại Thụy Điển là 2,85/7; Angelo Presenza và Simone Iocca (2012) nghiên cứu lễ hội âm nhạc tại Ý với 14,58% lễ hội do cơ quan nhà nước tổ chức; B. Shine Cho và cộng sự (2019) phân tích sự can thiệp và giới hạn quản lý của Nhà nước tại Hàn Quốc.
    • Tác giả trong nước: Bùi Hoài Sơn (2007, 2009) khẳng định chức năng ban hành văn bản, kiểm tra, định hướng di sản; Nguyễn Hữu Thức (2011) nhấn mạnh vai trò giám sát, hướng dẫn của chính quyền sở tại; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012) xác định vai trò điều tiết chính sách; Trần Hữu Sơn (2015) phân tích 3 mô hình quản lý (tự quản có giám sát, kết hợp Nhà nước hỗ trợ, và Nhà nước chỉ đạo chặt chẽ); Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú (2004), Phạm Thị Thanh Quy (2009), Từ Thị Loan (2010, 2012), Đặng Thị Bích Liên (2013) đề xuất giải pháp quản lý theo phân cấp và nâng cao hiệu quả định hướng.
  2. Nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý lễ hội:

    • Tác giả quốc tế: Von Silke Lewinski (2008), Dawnhee Yim (2009), Lourdes Arizpe (2013), Michelle L. Stefano, Peter Davis, Gerard Corsane (2014) khẳng định cộng đồng là chủ thể sáng tạo, quyết định phương thức bảo vệ di sản.
    • Tác giả trong nước: Nguyễn Chí Bền (2005) nhấn mạnh cộng đồng là chủ thể thực hành và hưởng thụ; Lê Thị Minh Lý (2010) coi cộng đồng là đối tác làm việc với nhà quản lý; Từ Thị Loan (2010, 2012) đề xuất trao quyền tự quản nhân lực, tài lực cho cộng đồng; Nguyễn Văn Huy (2012) cảnh báo hiện tượng Nhà nước can thiệp quá sâu làm hộ dân; Lương Hồng Quang (2010), Nguyễn Hữu Thức (2011) làm rõ năng lực tự quản và cố kết cộng đồng làng xã; Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993), Phạm Cao Quý (2016) phân tích sự thương thỏa dòng họ, giới và quyền lực xã hội trong thực hành lễ hội.
  3. Nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội:

    • Nguyễn Viết Chức (2001) nghiên cứu 10 lễ hội tiêu biểu và xã hội hóa lễ hội; Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2012) bàn về giá trị lễ hội trong bối cảnh toàn cầu hóa; Nguyễn Chí Bền (2013) phân tích thách thức bảo tồn di sản tại Thủ đô; các bài báo của Hoàng Thị Ngọc Lan (2007), Bùi Thế Quân (2010), Nguyễn Thị Bích Thủy (2014) và các công trình của Nguyễn Thanh Phương (2011), Lê Thu Giang (2011), Trần Thu Hà (2014), Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015), Nghiêm Thị Hường (2016), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017) khảo sát thực trạng văn hóa làng nghề và đề xuất giải pháp bảo tồn cục bộ.
  4. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vai trò:

    • Lịch sử lý thuyết vai trò gắn với Ralph Linton (1936), George Herbert Mead (1934), Charles Horton Cooley (1902), Émile Durkheim (1897), John Dewey (1922), Jacob L. Moreno (1934), Bruce J. Biddle (1979, 1986), Edwin J. Thomas & Biddle (1966).
    • Vận dụng vào quản lý và tương tác: Sheryl L. Shivers-Blackwell (2004) về sự đồng thuận kỳ vọng; Anne J. Broderick (1998) về khác biệt và xung đột vai trò trong tương tác dịch vụ; Jodie Whelan (2014) về mạng lưới nhận thức vai trò; Chekitan S. Dev (1989) về độ vênh giữa kỳ vọng và hiệu suất.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình đi trước chủ yếu xem xét quản lý lễ hội truyền thống nói chung hoặc dừng lại ở mô tả văn hóa làng nghề, chưa tiếp cận sâu vào lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội dưới góc độ quản lý văn hóa và chưa ứng dụng lý thuyết vai trò để giải thích cơ chế tương tác, sự đồng thuận, xung đột hay quá tải vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân tích lý thuyết

  • Lễ hội truyền thống: Là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân (trích dẫn văn bản số 16 trong luận án).
  • Làng nghề: Luận án tiếp cận định nghĩa của Bùi Xuân Đính (chủ biên, 2004): Làng nghề là các làng mà phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công, tạo ra các sản phẩm mang tính cách riêng, thu nhập và thời gian làm nghề chiếm tỉ lệ lớn nhất, chi phối kiến trúc, nếp sống và phong tục của làng.
  • Lễ hội truyền thống làng nghề: Luận án đưa ra khái niệm: Là hình thức văn hóa của cộng đồng cư dân làng nghề tổ chức để tôn vinh tổ nghề (người thực hoặc huyền thoại), tôn vinh nghề nghiệp, thi tay nghề, dâng sản phẩm nghề và thể hiện sự tiếp nối văn hóa từ truyền thống đến hiện đại.
  • Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề: Hoạt động có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý (Nhà nước và cộng đồng) tác động tới đối tượng quản lý nhằm bảo tồn, phát huy di sản và phát triển kinh tế - xã hội làng nghề.
  • Vận dụng lý thuyết vai trò tổ chức và nhận thức:
    • Nhà nước đảm nhận 05 vai trò: Định hướng chỉ đạo; Thiết kế; Duy trì, thúc đẩy; Điều chỉnh; Phối hợp. Triển khai qua 04 hoạt động: (1) Xây dựng ban hành văn bản; (2) Hướng dẫn tổ chức thực hiện; (3) Đảm bảo các điều kiện tổ chức; (4) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
    • Cộng đồng đảm nhận 05 vai trò: Tự chủ; Chủ động, tích cực; Thực hiện; Quyết định; Phối hợp. Triển khai qua 04 hoạt động: (1) Xây dựng kế hoạch, kịch bản; (2) Thực hành lễ hội/di sản; (3) Tham gia huy động nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính); (4) Tham gia giám sát các hoạt động.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp liên ngành (Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học, Dân tộc học) kết hợp định tính và định lượng:

+-------------------------------------------------------------------------------+
|                      PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN                       |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| Phương pháp              | Quy mô và công cụ triển khai                       |
+--------------------------+----------------------------------------------------+
| Phân tích, tổng hợp      | Hệ thống hóa chủ trương, chính sách, tài liệu      |
| Mô hình hóa              | Mô phỏng tương tác vai trò theo khung phân tích    |
| Khảo sát bằng bảng hỏi   | 350 phiếu phát ra, thu về 330 phiếu hợp lệ         |
|                          | (32 cán bộ quản lý, 298 người dân cộng đồng)       |
| Phân tích dữ liệu        | Nhập liệu, thống kê bằng Microsoft Excel           |
| Phỏng vấn sâu            | 20 cuộc phỏng vấn, mã hóa chuyên gia PV01 - PV31   |
| Phương pháp chuyên gia   | Tham vấn chuyên gia Sở VH&TT, Phòng VH các quận    |
| Phương pháp so sánh      | So sánh giữa 4 mô hình làng nghề và làng thuần nông|
+--------------------------+----------------------------------------------------+

Thang đo Likert được sử dụng để lượng hóa mức độ đánh giá:

Điểm trung bình Mức độ đánh giá theo thang đo Likert
1.00 – 1.60 Kém, phải lập kế hoạch để điều chỉnh ngay
> 1.60 – 2.40 Chấp nhận được, cần tiếp tục cải thiện các hoạt động
> 2.40 – 3.20 Tương đối tốt, cần phát huy hơn nữa các điểm mạnh và khắc phục hạn chế
> 3.20 – 4.20 Tốt (mức đạt chuẩn yêu cầu)
4.21 – 5.00 Rất tốt, cần được phổ biến nhân rộng

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề, khái quát về lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương này hoàn thiện bức tranh tổng quan tài liệu, xác lập khung lý thuyết vai trò và thống kê diện mạo lễ hội làng nghề Hà Nội.

Theo danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội (Quyết định số 1511/QĐ-SVH&TT ngày 06/12/2016), toàn thành phố có 40 lễ hội truyền thống làng nghề phân bố tại 30 quận, huyện, thị xã:

+--------------------------------------------------------------------------+
|          PHÂN BỐ 40 LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ TẠI HÀ NỘI             |
+------------------------------------+-------------------------------------+
| Tiêu chí thống kê                  | Số lượng và tỷ lệ                   |
+------------------------------------+-------------------------------------+
| Theo ngành nghề tiêu biểu          | - Nghề mộc: 08 lễ hội               |
|                                    | - Nghề dệt, may: 05 lễ hội          |
|                                    | - Nghề chế biến thực phẩm: 04 lễ hội|
|                                    | - Nghề làm vàng bạc: 03 lễ hội      |
|                                    | - Nghề gốm: 02 lễ hội               |
|                                    | - Nghề làm nón: 02 lễ hội           |
|                                    | - Nghề khác (mây tre, pháo, thuốc...)|
+------------------------------------+-------------------------------------+
| Theo không gian thờ tự             | - Tổ chức tại đình làng: 16/40      |
|                                    | - Tổ chức tại đền thờ Tổ nghề: 13/40|
|                                    | - Tổ chức ở cả đình và đền: 11/40   |
+------------------------------------+-------------------------------------+
| Theo quy mô tổ chức                | - Quy mô làng/xã: 37/40             |
|                                    | - Quy mô quận/thành phố: 03/40      |
|                                    |   (Kim Ngân, Vạn Phúc, Bát Tràng)   |
+------------------------------------+-------------------------------------+
| Theo khu vực địa lý                | Ngoại thành chiếm ưu thế (12/18 LH) |
+------------------------------------+-------------------------------------+

Chương 1 đi sâu khảo sát 04 lễ hội điển hình:

  1. Lễ hội đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, Hoàn Kiếm): Thờ Tổ bách nghệ Hiên Viên và Thành hoàng Lưu Xuân Tín (người dạy nghề đúc bạc cho dân làng Châu Khê). Di tích rộng 575m², xếp hạng di tích quốc gia năm 1992. Hội tổ chức dịp Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4, có lễ rước qua các tuyến phố cổ (Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Dầu, Lò Sũ, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Đào), trình diễn chạm bạc Đồng Xâm, dát vàng Kiêu Kỵ, đậu bạc Định Công.
  2. Lễ hội làng nghề lụa Vạn Phúc (Hà Đông): Thờ Thành hoàng và khởi Tổ nghề dệt Ả Lã Đê Nương (Nga Hoàng Đệ Nhị Vương Phi, thế kỷ IX). Hội chính từ ngày 11-13 tháng Giêng âm lịch; năm 2018 nâng tầm quy mô thành phố gắn với Tuần lễ văn hóa du lịch thương mại (08-17/11/2018), nổi bật với lễ rước nước, múa Rồng, thi "Trình nghề và dâng đồ khéo", Đêm hội vân lụa Rồng bay.
  3. Lễ hội làng nghề gốm Bát Tràng (Gia Lâm): Thờ Lục vị Thành hoàng (trong đó Thánh cả là Lưu Thiên Tử Đại vương / Lưu Cơ). Đình Bát Tràng xây năm 1720, xếp hạng quốc gia năm 2005. Hội từ 14-16 tháng Hai âm lịch, có nghi lễ rước nước sông Hồng lọc qua vải điều đỏ, dâng lễ Tam sinh, rước bát hương 20 dòng họ (họ Nguyễn Ninh Tràng đi giữa), thi tay nghề gốm và chơi cờ người, hát thờ.
  4. Lễ hội làng Bình Đà (xã Bình Minh, Thanh Oai): Thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân. Đền Nội tọa lạc trên thế đất Hoàng Quy Cung, lưu giữ bức phù điêu Bảo vật quốc gia hơn 1.000 năm tuổi "Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ". Hội diễn ra từ 25 tháng Hai đến mồng 6 tháng Ba âm lịch (chính hội 01-06/3 âm lịch) với nghi lễ trình bò sống, thả bánh vía và rước lễ vật của 7 thôn.

Chương 1 cũng chỉ rõ đặc điểm riêng biệt của lễ hội làng nghề Hà Nội: vừa mang tính chất làng nghề nông thôn vừa mang tính chất phố nghề đô thị; gắn chặt với quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và quảng bá sản phẩm thủ công.

Chương 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2 phân tích cơ cấu chủ thể, mối quan hệ phối hợp và đo lường kết quả thực hiện các vai trò:

  • Chủ thể Nhà nước: Thể hiện qua hệ thống cơ quan quản lý từ Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, UBND cấp quận/huyện, Phòng Văn hóa - Thông tin, đến UBND cấp xã/phường. Đảm nhận việc ban hành quy chế, cấp phép, bảo đảm an ninh trật tự, cấp kinh phí hỗ trợ tu bổ di tích và lập hồ sơ di sản. Tuy nhiên, việc hướng dẫn và thanh tra còn mang tính hành chính hóa.
  • Chủ thể cộng đồng: Bao gồm ban khánh tiết, người cao tuổi, nghệ nhân, hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp và cư dân. Đảm nhận việc trực tiếp thực hành nghi lễ, lập kịch bản, bảo đảm kinh phí tổ chức (trung bình 300 - 350 triệu đồng mỗi kỳ lễ hội, phần lớn do cộng đồng tự đóng góp qua xã hội hóa).
  • Phát hiện từ khảo sát thực chứng:
    • Tồn tại độ vênh giữa kỳ vọng và mức độ đáp ứng trong các hoạt động quản lý.
    • Sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở và cộng đồng ở một số lễ hội chưa nhịp nhàng, dẫn đến tình trạng quá tải vai trò của cộng đồng khi Nhà nước buông lỏng hoặc can thiệp không đúng chức năng.
    • Nguy cơ thương mại hóa, biến dạng nghi lễ và khó khăn trong việc cân bằng giữa bảo tồn bí quyết nghề và phát triển du lịch thương mại.

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Căn cứ trên các nghị quyết của Đảng, chiến lược phát triển văn hóa và thực trạng khảo sát, tác giả đề xuất 02 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước:
    1. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn quản lý lễ hội phù hợp với đặc thù làng nghề, phố nghề.
    2. Phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước và quyền tự quản của cộng đồng; chuyển mạnh từ "làm hộ" sang định hướng, thẩm định và giám sát.
    3. Tăng cường hỗ trợ điều kiện tổ chức: quy hoạch không gian lễ hội, hỗ trợ số hóa di sản lễ hội làng nghề, gắn kết lễ hội với chuỗi du lịch làng nghề Hà Nội.
    4. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn thương mại hóa và cờ bạc trá hình.
  • Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng:
    1. Nâng cao năng lực tự quản của Ban tổ chức lễ hội và Ban quản lý di tích cơ sở.
    2. Phát huy vai trò của nghệ nhân, các dòng họ, hiệp hội làng nghề và doanh nghiệp trong việc giữ gìn nghi thức dâng hương tổ nghề, trình diễn kỹ thuật truyền thống và đóng góp nguồn lực tài chính.
    3. Xây dựng quy chế giám sát cộng đồng đối với thu chi tài chính và quản lý dịch vụ lễ hội.
    4. Nâng cao nhận thức và trao truyền truyền thống cho thế hệ trẻ làng nghề.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Bổ sung khái niệm chuyên ngành: Luận án hệ thống hóa và đưa ra khái niệm chuẩn xác về "Lễ hội truyền thống làng nghề" và "Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề" từ góc độ quản lý văn hóa di sản phi vật thể.
  2. Xây dựng khung phân tích dựa trên lý thuyết vai trò: Vận dụng lý thuyết vai trò tổ chức và nhận thức vào lĩnh vực lễ hội, xác lập mô hình 5 vai trò của Nhà nước (Định hướng; Thiết kế; Duy trì, thúc đẩy; Điều chỉnh; Phối hợp) và 5 vai trò của cộng đồng (Tự chủ; Chủ động, tích cực; Thực hiện; Quyết định; Phối hợp), tương ứng với 4 nhóm hoạt động quản lý cụ thể của mỗi bên.
  3. Làm rõ tính đặc thù: Phân tích điểm khác biệt giữa quản lý lễ hội làng nghề (gắn với tổ nghề, kỹ nghệ, sản phẩm và kinh tế thương mại) so với quản lý lễ hội truyền thống thuần nông nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng: Hệ thống hóa số liệu 40 lễ hội làng nghề tại Hà Nội, phân tích chi tiết 4 mô hình tiêu biểu (phố nghề Kim Ngân, làng nghề liên vùng Vạn Phúc, làng nghề du lịch Bát Tràng, làng nghề chuyển đổi Bình Đà).
  2. Đo lường mức độ tương tác và quá tải vai trò: Chỉ ra thực trạng đóng góp kinh phí (300 - 350 triệu đồng/lễ hội do dân tự lo là chính), đánh giá sự hài lòng và mức đáp ứng vai trò thông qua bảng hỏi Likert và phỏng vấn sâu.
  3. Hệ thống giải pháp ứng dụng: Cung cấp luận cứ khoa học để Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, chính quyền các quận/huyện và các hiệp hội làng nghề hoàn thiện quy chế phối hợp, phân quyền tự quản di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm trong giai đoạn 2015 - 2021 tại địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ tập trung sâu vào 02 chủ thể cốt lõi là Nhà nước và cộng đồng mà chưa mở rộng phân tích chuyên sâu vai trò của các chủ thể phụ trợ khác (như doanh nghiệp lữ hành du lịch độc lập hay truyền thông đại chúng).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình quản lý lễ hội làng nghề của Hà Nội với các trung tâm di sản làng nghề khác trong nước (như cố đô Huế, vùng đồng bằng sông Hồng, sông Tiền) và quốc tế.
    • Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa đến cấu trúc thực hành lễ hội làng nghề sau năm 2022.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Sở VH&TT Hà Nội, Phòng VH-TT quận/huyện): Cung cấp khung đối chiếu thẩm quyền, hỗ trợ xây dựng chính sách quản lý di sản phi vật thể, tránh tình trạng "làm hộ" hoặc "buông lỏng" quản lý ở cơ sở.
  • Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp luận vận dụng lý thuyết vai trò vào nghiên cứu di sản; khung bảng hỏi và thang đo Likert ứng dụng trong khảo sát xã hội học văn hóa.
  • Đối với Ban quản lý di tích, hiệp hội làng nghề và cộng đồng địa phương: Là tài liệu tham khảo để xây dựng kịch bản lễ hội, quy chế tự quản và kế hoạch huy động nguồn lực xã hội hóa minh bạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát sâu những lễ hội truyền thống làng nghề nào tại Hà Nội?

Luận án tập trung khảo sát 04 lễ hội đại diện cho 4 mô hình: Lễ hội Đình Kim Ngân - Hàng Bạc (phố nghề nội đô), Lễ hội làng nghề Lụa Vạn Phúc (làng nghề thương mại liên vùng), Lễ hội làng nghề Gốm Bát Tràng (làng nghề thương mại - du lịch ngoại thành) và Lễ hội làng pháo Bình Đà (làng nghề nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề).

2. Thành phố Hà Nội có bao nhiêu lễ hội truyền thống làng nghề theo số liệu kiểm kê trong luận án?

Theo danh mục kiểm kê của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội (Quyết định số 1511/QĐ-SVH&TT năm 2016) được luận án trích dẫn, Hà Nội có 40 lễ hội truyền thống làng nghề. Trong đó, nghề mộc có 08 lễ hội, dệt may 05, chế biến thực phẩm 04, vàng bạc 03, gốm 02, nón 02; 16 lễ hội tổ chức tại đình làng, 13 tại đền thờ tổ nghề và 11 tổ chức ở cả đình và đền.

3. Tác giả vận dụng khung lý thuyết nào để giải quyết vấn đề nghiên cứu?

Tác giả vận dụng Lý thuyết vai trò (Role Theory), trọng tâm là Lý thuyết vai trò tổ chức và Lý thuyết vai trò nhận thức (kế thừa các nghiên cứu của Ralph Linton, George Herbert Mead, Bruce J. Biddle, Thomas, Shivers-Blackwell, Broderick, Dev, Whelan) để phân tích 5 vai trò của Nhà nước và 5 vai trò của cộng đồng qua các hoạt động quản lý thực tế.

4. Dữ liệu khảo sát thực chứng của luận án được thu thập với quy mô mẫu như thế nào?

Luận án phát ra 350 phiếu khảo sát (32 cán bộ quản lý, 318 người dân cộng đồng), thu về 330 phiếu hợp lệ (32 cán bộ quản lý, 298 người dân cộng đồng) trong giai đoạn 2015 - 2021; đồng thời thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia và đối tượng liên quan được mã hóa từ PV01 đến PV31.

5. Dấu hiệu "quá tải vai trò của cộng đồng" được luận án chỉ ra ở điểm nào?

Cộng đồng làng nghề phải gánh vác phần lớn các khâu từ lập kế hoạch, kịch bản, thực hành nghi lễ cho đến tự huy động kinh phí tổ chức (trung bình 300 - 350 triệu đồng mỗi lễ hội), trong khi nguồn lực hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước rất hạn chế và sự phối hợp, hướng dẫn từ chính quyền ở một số thời điểm chưa đáp ứng kịp thời.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Phượng đã giải quyết thành công bài toán quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn Hà Nội thông qua việc ứng dụng lý thuyết vai trò tổ chức và nhận thức. Bằng việc phân tích thực chứng tại 4 mô hình lễ hội đặc trưng, công trình đã làm rõ mối quan hệ tương tác, mức độ đáp ứng kỳ vọng và hiện tượng quá tải vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng. Hệ thống hai nhóm giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế làng nghề Thủ đô.