đặt vấn đề quản lý lễ hội trong khoa học quản lý văn hóa, tác giả cho rằng: lễ hội truyền thống được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hóa phi vật thể, có sự biến đổi, tích lũy và lựa chọn văn hóa qua thời gian, bởi vậy Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo và định hướng [73]. Tác giả Từ Thị Loan (2010) [47], tác giả Từ Thị Loan (2012) [48], đều khẳng định vai trò chỉ đạo, định hướng của Nhà nước. Ngoài ra, tác giả Đặng Thị Bích Liên (2013) cho rằng, trong thời gian tới cần nâng cao vai trò chỉ đạo, định hướng của Bộ chủ quản về văn hóa [43]. Như vậy có thể thấy, hầu hết các công trình đã đề cập đến vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền thống, một số công trình đã đề xuất các giải pháp QLLH truyền thống, tuy nhiên các công trình chỉ đề cập đến vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền thống chung, chưa khai thác nhiều về QLLH truyền thống làng nghề.
Những công trình nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý lễ hội Nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý di sản văn hóa, các học giả nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến vấn đề này rất sớm, từ khi sự xuất hiện các công ước về di sản văn hóa cho đến nay. Tiêu biểu: Lewinskin, Von Silke (2008), tác giả phân tích về vấn đề quyền của dân tộc bản địa, các nguồn lực địa phương trong sáng tạo, duy trì các loại hình văn hóa truyền thống [124]; Dawnhee Yim (2009) cho rằng: để quản lý các di sản văn hóa phi vật thể, nhất thiết phải có sự tham gia của chủ thể di sản đó để quyết định các cách thức quản lý… [110]. Arizpe, Lourdes (2013), tác giả cho rằng: Cộng đồng được nhận diện và nhận thức rõ hơn về chính di sản của họ; tự hào, quan tâm đến bảo vệ di sản [103]; trong nghiên cứu Stefano, Michelle L., Peter Davis, Greard (2014), tác giả cũng đã xác nhận vai trò của cộng đồng trong việc tạo ra giá trị và bảo vệ DSVHPVT [135]. 16 Cùng nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong tổ chức và QLLH, các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam đều nhận thức rõ vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng trong công tác quản lý lễ hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng đồng.
Điều này được đề cập đến ở rất nhiều các công trình khác nhau: tác giả Nguyễn Chí Bền (2005) cho rằng: phải lấy cộng đồng là chủ thể thực hành, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa lễ hội [1]; tác giả Lê Thị Minh Lý (2010) nhận định: cộng đồng chính là người làm nên giá trị lễ hội và quyết định cách thức bảo vệ di sản của họ. Họ là đối tác làm việc với nhà quản lý văn hóa để bảo vệ lễ hội [52]; hay xem xét công tác tổ chức và quản lý lễ hội theo quan điểm quản lý các bên liên quan của tác giả Từ Thị Loan (2010), tác giả cũng cho rằng “Nên trao trả vai trò tự quản của lễ hội cho cộng đồng. Nhà nước chỉ làm công tác quản lý về mặt hành chính, pháp luật, còn việc quản lý nhân lực, vật lực, tài lực thì nên để cộng đồng tự quản” [47]. Tác giả Từ Thị Loan (2012) cũng khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền, thể hiện ở ý thức bảo vệ di sản, trong việc lưu trữ, giữ gìn các văn bản cổ liên quan đến lễ hội, trong sự tham gia nhiệt tình, tự nguyện vào diễn trình lễ hội, trong khâu quản lý lễ hội.
Tác giả đưa ra với 4 mô hình chính ở nước ta hiện nay, trong đó có mô hình quản lý và tổ chức mang tính cộng đồng tự quản (nhấn mạnh vai trò tự quản của cộng đồng trong việc lên kế hoạch, tổ chức nội dung lễ hội, thực hành lễ hay tổ chức các hoạt động hội; quản lý nguồn thu chi…). Tác giả cũng đúc kết được một số tiêu chí chung và mô hình về tổ chức quản lý các lễ hội cổ truyền: 1) Tôn trọng các chủ thể văn hóa, trao quyền tự quyết và tự quản cho cộng đồng địa phương; 2) Quyền lợi và trách nhiệm của người dân địa phương, của chính quyền và du khách phải được phân bổ hợp lý, minh bạch; 3) Quảng bá, tôn vinh được các nét đẹp văn hóa của lễ hội, bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa; 4) Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, giảm thiểu các tệ nạn, biểu hiện tiêu cực; 5) Tôn trọng và thân thiện với môi trường sống. Phát triển lễ hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, không tàn phá, xâm hại thiên nhiên, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp [48]. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Huy (2012) cũng có nhận xét, đối với một số lễ hội, Nhà nước can thiệp quá sâu, dẫn đến làm hộ dân, làm giảm sự chủ động của cộng đồng [33].
Ngoài ra, vai trò của cộng đồng trong tổ chức và quản lý lễ hội còn được thể hiện qua vai trò tự quản, cố kết cộng đồng. Tác giả Lương Hồng Quang (2010) cho rằng: “Năng lực tự quản cộng đồng ở nông thôn vẫn là một giá trị xã hội được coi trọng do ý 17 thức về cộng đồng, về tập thể vẫn còn sâu đậm trong đời sống tâm linh cũng như trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện qua sự trường tồn của hội làng, tâm thức hướng về ông tổ của làng, tinh thần tình làng nghĩa xóm, sự kiểm soát của dư luận vẫn là những giá trị tác động mạnh đến mọi thành viên trong cộng đồng” [66]. Cũng nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong việc kết nối, tự quản và cố kết cộng đồng thông qua các hoạt động lễ hội, tác giả Nguyễn Hữu Thức (2011) cho rằng: “Cộng đồng hơn ai hết biết phải tổ chức lễ hội như thế nào tùy thuộc vào khả năng tài chính, ý thức tự giác để đáp ứng các nhu cầu văn hóa lễ hội. Với cơ chế tự quản của cộng đồng, người dân biết cách điều chỉnh hài hòa các lợi ích xuất phát từ họ” [85].
Ở một góc nhìn khác về vai trò của cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền thống, tại Hội thảo khoa học, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012) chỉ ra rằng: “Nâng cao nhận thức của cộng đồng; giải quyết các lợi ích trong nội bộ cộng đồng; mối quan hệ giữa tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể khác, đơn vị quản lý di tích, các vị chủ trì cơ sở thờ tự và cộng đồng trong việc vận hành các hoạt động bảo tồn di sản và tổ chức lễ hội? Điều quan trọng nhất là xây dựng cho được cơ chế và chính sách đảm bảo cho cộng đồng thực sự làm chủ di sản của mình” [8, tr. Tuy nhiên, có tác giả cũng lưu ý rằng “Chủ trương cộng đồng là chủ thể của lễ hội là đúng, nhưng trong điều kiện xã hội hiện nay, không thể “khoán trắng” cho cộng đồng, mà rất cần sự chung tay góp sức của các cụ cao niên hiểu biết về lễ hội trong cộng đồng, các nhà khoa học nghiên cứu về lễ hội và những người làm công tác quản lý di tích, các vị chủ trì cơ sở thờ tự phối hợp nghiên cứu sâu từng lễ hội dưới sự bảo trợ của chính quyền cơ sở, tạo sự đồng thuận của cộng đồng và hướng dẫn cộng đồng thực hành lễ hội. Có như vậy, cộng đồng ngày nay mới có thể trở thành chủ thể thực sự của lễ hội” [8, tr. Ngoài ra, khi xem xét đến vai trò của cộng đồng trong lễ hội phải kể đến các nghiên cứu của các tác giả Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993) [37], Phạm Cao Quý (2016) [70], nhiều vấn đề được đề cập đến, như: Tìm hiểu và lý giải tại sao người tham gia lễ hội lại có những thực hành như vậy, những thực hành đó có mục đích và ý nghĩa như thế nào đối với họ; Những mâu thuẫn, thỏa hiệp, thương thỏa giữa các dòng họ, các nhóm xã hội, các cộng đồng để thực hành các nghi lễ, sự đóng góp nhân lực vật lực trong các hoạt động lễ hội; Sự tham gia, can thiệp của chính quyền trong các lễ hội của làng, nhất là các lễ hội được thế giới vinh danh thì sau đó sự tham gia và vai trò của người dân ra sao; Vấn đề giới, quyền lực của các nhóm xã hội, các cá nhân khác nhau 18 trong một cộng đồng được thể hiện qua việc thực hành các lễ hội; Những thay đổi và những yếu tố chi phối những thay đổi đó là gì, phản ánh điều gì và nó có tác động như thế nào đối với cá nhân, cộng đồng làng chủ thể của lễ hội.
Qua các công trình nghiên cứu ở trên, nhiều công trình khẳng định vai trò của cộng đồng trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội: cộng đồng là nhân tố rất quan trọng để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội. Cộng đồng sẽ là người quyết định lễ hội của họ như thế nào và lễ hội phải xuất phát từ nhu cầu tự thân của họ. Vì vậy, cần trao trả lễ hội cho cộng đồng, nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng trong công cuộc bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền. Ngoài ra có rất nhiều công trình đề cập đến mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và cộng đồng trong quản lý di sản văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng: nhóm công trình nghiên cứu này tập trung vào việc chỉ ra mối liên hệ của các bên liên quan trong quản lý di sản - quản lý lễ hội truyền thống; chứng minh về sự cần thiết của cộng đồng trong vai trò quản lý di sản văn hóa phi vật thể; chỉ ra vai trò của các chủ thể là Nhà nước và cộng đồng (người dân, doanh nghiệp…) trong quản lý lễ hội truyền thống.
Ở hầu hết các công trình đều có chung quan điểm cho rằng người dân/cộng đồng chính là chủ thể của lễ hội, họ là người tổ chức, tham gia và hưởng thụ các giá trị của lễ hội. Các tổ chức Đảng và chính quyền địa phương nếu có tham gia cũng chỉ có vai trò giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng. Tuy nhiên, các công trình chưa đi nghiên cứu cụ thể về vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội.