Tổng quan luận án
Vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, được thể hiện rõ qua Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 và Nghị quyết số 41-NQ/TƯ ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị. Vùng đồng bằng sông Hồng là nơi có lịch sử phát triển làng nghề hàng trăm năm, tập trung mật độ làng nghề cao nhất cả nước và giải quyết việc làm cho gần 30% lao động nông thôn. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cơ sở sản xuất kết hợp với công nghệ, máy móc lạc hậu đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hoạt động thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại khu vực này bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ tuân thủ thấp, các thủ tục hồ sơ môi trường bị bỏ qua, công tác thanh tra kiểm tra thiếu thường xuyên và hoạt động xử lý vi phạm hành chính phần lớn chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở. Trước thực trạng đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật về việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề, phân tích và đánh giá thực trạng tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng, từ đó đưa ra dự báo, xây dựng quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật. Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là, xây dựng các khái niệm về làng nghề, pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề; xác định chủ thể, nội dung, hình thức, vai trò và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore để rút ra bài học áp dụng.
- Hai là, phân tích tình hình ô nhiễm môi trường và thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng; làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập cùng nguyên nhân khách quan và chủ quan.
- Ba là, dự báo xu hướng phát triển, xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất hai nhóm giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề và quá trình thực hiện pháp luật này trong thực tiễn tại 11 tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Về phạm vi không gian, luận án khảo sát toàn diện các cấp hành chính (tỉnh/thành phố, quận/huyện, xã/phường, thôn/làng) tại 11 địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Quảng Ninh. Về phạm vi thời gian, công trình tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật và dữ liệu thực tế từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ban hành đến thời điểm hoàn thành luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy các công trình liên quan đến môi trường làng nghề và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đã được triển khai ở nhiều cấp độ khác nhau:
| Hướng nghiên cứu | Tác giả và công trình tiêu biểu | Nội dung chính và giới hạn tiếp cận |
|---|---|---|
| Nghiên cứu về môi trường làng nghề trong nước | Đặng Kim Chi (2005, đề tài [38]; sách [37]), Nguyễn Trí Dĩnh [69], Đỗ Thị Thạch [106], Hồ Kỳ Minh [91], Bạch Thị Lan Anh [2], Nguyễn Thị Ngọc Lanh [88], Lê Xuân Tâm [104], Nguyễn Lê Thu Hiền [76], Trần Văn Thể [110], Nguyễn Thị Mai Hương [83], Lê Hải [74], Ngô Thái Hà [73], Chu Thái Thành [108], Tạ Hoàng Tùng Bắc [5]. | Tập trung vào hiện trạng ô nhiễm, công nghệ xử lý kỹ thuật, quản lý sử dụng đất, mô hình du lịch làng nghề hoặc đánh giá thiệt hại kinh tế do chất thải; chưa tiếp cận từ góc độ lý luận thực hiện pháp luật. |
| Nghiên cứu về thực hiện pháp luật chung và thực hiện pháp luật môi trường | Nguyễn Văn Mạnh [90], Nguyễn Minh Đoan [71], Giáo trình ĐH Luật Hà Nội [117], Cục Môi trường [66], [67], Sango Mahanty và cs [153], Vũ Thu Hạnh [75], Lê Kim Nguyệt [92], [93], Nguyễn Duy Hà [72], Nguyễn Thị Thu Hường [84], Phạm Thị Thanh Xuân [144], Lưu Việt Hùng [82], Viện nghiên cứu MT Hàn Quốc & WB [149], Phương Thanh [107], Linh Lan [87]. | Phân tích lý thuyết về 4 hình thức thực hiện pháp luật, giải quyết tranh chấp môi trường, quản lý chất thải rắn hoặc khảo sát thực hiện pháp luật tại khu công nghiệp, địa bàn một tỉnh; chưa nghiên cứu chuyên sâu về thiết chế làng nghề toàn vùng. |
| Nghiên cứu quốc tế về ô nhiễm làng nghề và thực hiện pháp luật môi trường | William và Arens [152] (Indonesia), Lal [150] (Fiji), Kaisorn và Phousavanh [148] (Lào), Fan [147] (Trung Quốc), Bộ ĐH và THCN Liên Xô [165], Kulcsar Kalman [86], Giáo trình Liên Xô [166], Tsumor Ushiyama [167] (Nhật Bản), Loh Ah Tuan [151] (Singapore), Лаевская [146]. | Đo lường thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tiểu thủ công nghiệp; phân tích cơ sở xã hội học pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, thuế/phí môi trường và vai trò giám sát cộng đồng tại các quốc gia; thiếu tính đặc thù của thể chế làng nghề Việt Nam. |
Khoảng trống học thuật được luận án xác định: Chưa có công trình khoa học chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ luật học nào phân tích và đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng từ góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý luận chuyên biệt, phân tích đồng thời 5 nội dung và 4 hình thức thực hiện pháp luật, từ đó xác lập các giải pháp pháp lý gắn với đặc thù quản lý nông thôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các nghị quyết, định hướng phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Các khái niệm trung tâm được xây dựng và xác lập bao gồm:
- Khái niệm môi trường: Các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người cùng sinh vật.
- Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường: Hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ, giữ gìn, quản lý tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
- Khái niệm làng nghề: Làng có các ngành nghề không phải là nông nghiệp nhưng chiếm trên 30% tổng số hộ lao động, hoặc có ít nhất 300 lao động, có giá trị sản xuất và thu nhập đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng trong năm, hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề đạt trên 300 triệu đồng.
- Khái niệm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề: Quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể.
Khung phân tích của luận án bao gồm việc đối chiếu quá trình thực thi trên 5 nội dung quản lý (bảo vệ nguồn nước; đất đai và tài nguyên đất; môi trường không khí; quản lý chất thải; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử) tương ứng với 4 hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật), chịu sự chi phối của 6 điều kiện bảo đảm (pháp lý, kinh tế, văn hóa - tập quán, năng lực cán bộ và cơ sở vật chất, ý thức pháp luật của chủ thể, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền).
| Chương | Phương pháp nghiên cứu chủ đạo | Mục đích áp dụng cụ thể |
|---|---|---|
| Chương 1 | Thống kê, so sánh, phân tích tài liệu thứ cấp | Khảo cứu, phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước; xác định khoảng trống nghiên cứu. |
| Chương 2 | Phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, logic, so sánh | Xây dựng hệ thống khái niệm, luận giải 5 nội dung, 4 hình thức, 6 điều kiện bảo đảm; rút ra kinh nghiệm quốc tế. |
| Chương 3 | So sánh - thống kê, phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể | Khảo sát số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá mức độ ô nhiễm và thực trạng thực hiện pháp luật tại 11 tỉnh. |
| Chương 4 | Phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, logic | Luận chứng các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hai nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật. |
Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương (Luật Bảo vệ môi trường 2005 và 2014, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT, Thông tư số 116/2006/TT-BNN); số liệu thống kê chính thức từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng; các báo cáo nghiên cứu và kỷ yếu khoa học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương này phân loại tài liệu nghiên cứu thành các nhóm chuyên đề trong nước và quốc tế. Về mặt quốc tế, các công trình đã lượng hóa thiệt hại kinh tế từ ô nhiễm làng nghề, như nghiên cứu của Fan [147] tại Vô Tích (Trung Quốc) chỉ ra lượng nước tiêu thụ 59,04 ngàn m³/ngày và lượng nước thải 34,09 ngàn m³/ngày gây thiệt hại 27,7 triệu USD/ngày (8,8 tỷ USD/năm); William và Arens [152] xác định thiệt hại xói mòn và ô nhiễm tại Java (Indonesia) là 411,2 triệu USD/năm. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Đặng Kim Chi [37], [38] đã hệ thống hóa kỹ thuật công nghệ cho 5 nhóm nghề chính, trong khi các công trình của Lê Kim Nguyệt [92], [93] và Lưu Việt Hùng [82] bước đầu phân tích khía cạnh pháp lý kiểm soát chất thải. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chỉ giải quyết từng khía cạnh kỹ thuật, môi trường hoặc kinh tế riêng lẻ, tạo tiền đề để luận án thiết lập hướng tiếp cận tổng thể dưới góc độ lý luận luật học tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Chương 2: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở Việt Nam
Tác giả phân loại làng nghề Việt Nam thành 8 loại hình sản xuất: chế biến lương thực, thực phẩm; ươm tơ, dệt vải, nhuộm, thuộc da; sản xuất vật liệu xây dựng; gia công cơ khí; chăn nuôi, giết mổ gia súc; thủ công mỹ nghệ; tái chế chất thải phế liệu; và các loại hình khác. Làng nghề có 6 đặc điểm cơ bản: phân bố tập trung gần 70% ở miền Bắc (chủ yếu là đồng bằng sông Hồng); công nghệ sản xuất lạc hậu, chắp vá; mặt bằng sản xuất chật hẹp, xen lẫn khu dân cư; lao động chiếm gần 30% lao động nông thôn nhưng trình độ học vấn thấp (gần 30% chưa tốt nghiệp cấp 3, chủ cơ sở học vấn bình quân lớp 7-8/12, có 1,3-1,6% mù chữ); tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình; quy hoạch còn manh mún.
Luận giải về 4 hình thức thực hiện pháp luật:
- Tuân thủ pháp luật: Kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm (như không xả chất thải chưa qua xử lý, không sử dụng hóa chất cấm).
- Thi hành (chấp hành) pháp luật: Thực hiện các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc (như lập cam kết bảo vệ môi trường, đóng phí bảo vệ môi trường).
- Sử dụng pháp luật: Thực hiện các quyền môi trường được pháp luật cho phép (như quyền được thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo hành vi gây ô nhiễm).
- Áp dụng pháp luật: Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của cơ quan có thẩm quyền nhằm ban hành các quyết định xử lý, cấp phép hoặc cưỡng chế.
Chương này cũng phân tích 3 vai trò: đưa pháp luật vào đời sống, bảo đảm quyền sống trong môi trường trong lành (theo Tuyên bố Stockholm 1972 và Tuyên bố Rio 1992), bảo đảm phát triển bền vững theo Khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014; cùng 6 điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy:
- Nhật Bản: Ban hành Luật cơ bản về kiểm soát ô nhiễm 1967, Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống 1974, thiết lập hệ thống đánh giá sản phẩm làng nghề 5 cấp độ sao gắn với ưu đãi tài chính và triển khai phong trào mỗi làng một sản phẩm (OVOP) từ năm 1979.
- Trung Quốc: Ban hành Luật Bảo vệ môi trường 1979 (sửa đổi 1989) cùng các luật chuyên ngành về ô nhiễm nước (1996), chất thải rắn (2004), không khí (1995, sửa đổi 2000), tiếng ồn (1996); áp dụng 4 loại thuế môi trường, tính phí nước thải theo tải lượng (2003) và thí điểm mô hình thu gom rác nông thôn tại thôn Ái Dân (thành phố Du Thụ, 2006). Đồng thời chỉ ra bài học về ô nhiễm nghiêm trọng tại lưu vực sông Trường Giang và Mã Yên Sơn do buông lỏng thực thi.
- Singapore: Kết hợp chế tài xử phạt hành chính nghiêm khắc với biện pháp hình sự để kiểm soát nguồn thải trên đất liền.
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Chương 3 trình bày bức tranh tổng thể về môi trường tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng. Môi trường nước mặt, nước ngầm, không khí và đất tại các làng nghề chế biến nông sản, tái chế kim loại, tái chế nhựa (như Minh Khai, Chỉ Đạo tại Hưng Yên; Phong Khê, Đa Hội tại Bắc Ninh) bị ô nhiễm nghiêm trọng các chỉ tiêu COD, BOD5, kim loại nặng và bụi.
Về kết quả thực hiện pháp luật: Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã ban hành nhiều nghị quyết, quy hoạch phân vùng sản xuất; ý thức của một bộ phận cơ sở sản xuất có chuyển biến thông qua việc di dời ra cụm công nghiệp tập trung.
Về hạn chế và nguyên nhân:
- Việc tuân thủ pháp luật của các hộ sản xuất còn rất thấp, tỷ lệ lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường chiếm tỷ lệ nhỏ; việc nộp phí bảo vệ môi trường bị trốn tránh.
- Hình thức áp dụng pháp luật của cơ quan chức năng còn thụ động; công tác thanh tra, kiểm tra không thường xuyên; việc xử lý vi phạm hành chính gần như bị buông lỏng, chủ yếu là nhắc nhở, thiếu các chế tài cưỡng chế đình chỉ hoạt động.
- Nguyên nhân chủ yếu do quy định pháp luật còn chồng chéo, kinh phí đầu tư thiết bị quan trắc môi trường đòi hỏi hàng trăm triệu đồng vượt quá khả năng ngân sách cơ sở, cán bộ phụ trách môi trường cấp huyện và xã thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn (dẫn chứng bất cập trong thực hiện thẩm quyền xử phạt theo Nghị định số 19/2015/NĐ-CP).
Chương 4: Dự báo, quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Tác giả dự báo áp lực ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng do tốc độ mở rộng sản xuất và nhu cầu tiêu thụ tài nguyên. Luận án xác lập 4 quan điểm chỉ đạo: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế làng nghề với bảo vệ môi trường bền vững; kết hợp giữa biện pháp hành chính - pháp lý với cơ chế kinh tế và giáo dục thuyết phục; phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị cùng cộng đồng dân cư.
Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành hai nhóm chính:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Rà soát, đồng bộ hóa các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; quy định rõ ràng trách nhiệm pháp lý và thẩm quyền xử phạt của chính quyền cấp huyện, xã; hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với đặc thù từng nhóm ngành nghề nông thôn; bổ sung các chế tài kinh tế và ưu đãi thuế cho cơ sở đổi mới công nghệ sạch.
- Nhóm giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật: Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về môi trường từ cấp tỉnh đến cơ sở, đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ địa phương; bố trí ngân sách xây dựng hạ tầng kỹ thuật thu gom, xử lý nước thải và chất thải rắn tập trung; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành và xử lý nghiêm minh các vi phạm; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và đưa quy ước, hương ước bảo vệ môi trường vào đời sống làng xã.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại những đóng góp khoa học cụ thể cho chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật:
- Về mặt lý luận: Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm gồm làng nghề, pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề; làm sáng tỏ cấu trúc thực hiện pháp luật thông qua 5 nội dung quản lý gắn với 4 hình thức thực hiện; phân tích hệ thống 6 điều kiện bảo đảm và đúc kết kinh nghiệm quốc tế có khả năng vận dụng tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá có hệ thống thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng; xác định rõ nguyên nhân của các tồn tại, bất cập trong công tác quản lý và xử phạt vi phạm hành chính; đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính khả thi, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ hoạt động lập quy và tổ chức thi hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng và tiếp cận vấn đề theo khung khổ của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và 2014, chưa khảo sát các vùng kinh tế khác trên cả nước. Đồng thời, dưới góc độ khoa học pháp lý, công trình không đi sâu vào thiết kế chi tiết các giải pháp kỹ thuật, công nghệ xử lý chất thải. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá việc thực thi pháp luật môi trường làng nghề tại các vùng miền khác hoặc nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành theo các đạo luật bảo vệ môi trường mới được sửa đổi.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các chủ thể và hoạt động sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật địa phương, hoạch định chính sách quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề và nâng cao hiệu quả thanh tra, xử lý vi phạm.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Môi trường sử dụng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
- Cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư: Nâng cao nhận thức pháp lý, hỗ trợ xây dựng hương ước, quy ước tự quản về bảo vệ môi trường tại các làng nghề nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí định lượng nào được luận án sử dụng để xác định một làng nghề?
Luận án định nghĩa làng nghề là làng có các ngành nghề phi nông nghiệp nhưng chiếm trên 30% tổng số hộ lao động, hoặc có ít nhất 300 lao động, có giá trị sản xuất và thu nhập đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng trong năm, hoặc đạt doanh thu hàng năm từ ngành nghề trên 300 triệu đồng.
2. Luận án phân tích việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề qua những nội dung và hình thức nào?
Quá trình thực hiện pháp luật được phân tích trên 5 nội dung (nguồn nước; đất đai; không khí; chất thải; cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử) và 4 hình thức (tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật).
3. Trình độ học vấn và đặc điểm của lực lượng lao động làng nghề ảnh hưởng như thế nào đến ý thức pháp luật theo văn bản?
Lao động làng nghề chiếm gần 30% lao động nông thôn nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, trong đó gần 30% chưa tốt nghiệp cấp 3. Trình độ học vấn của các chủ hộ sản xuất chỉ đạt bình quân lớp 7-8/12, có 1,3-1,6% không biết chữ. Điều này dẫn đến sự hạn chế trong việc tiếp cận, hiểu biết và tự giác tuân thủ các quy định pháp luật môi trường.
4. Kinh nghiệm quản lý môi trường làng nghề của Nhật Bản được luận án rút ra gồm những điểm nào?
Nhật Bản đã ban hành Luật kiểm soát ô nhiễm 1967, Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống 1974; thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm 5 sao gắn với nghĩa vụ nộp phí hoặc miễn giảm phí môi trường; phát triển phong trào mỗi làng một sản phẩm (OVOP) từ năm 1979 gắn với du lịch sinh thái và nâng cao ý thức tự giác của người dân.
5. Vì sao công tác xử phạt vi phạm hành chính về môi trường ở cấp huyện và xã gặp nhiều khó khăn?
Theo quy định tại Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã có thẩm quyền xử phạt nhưng thực tế khó triển khai do cả hai cấp hành chính này đều thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về môi trường, đồng thời thiếu kinh phí trang bị hệ thống thiết bị kỹ thuật quan trắc.
Kết luận
Luận án đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, phân tích pháp lý và khảo sát thực tiễn, công trình đã chỉ rõ các kết quả, bất cập và nguyên nhân trong quá trình thi hành pháp luật môi trường tại cơ sở. Hệ thống quan điểm và hai nhóm giải pháp do luận án đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý nhà nước và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nông thôn Việt Nam.