CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE NGHIÊN Cl fU CHAT LƯỢNG NƯỚC : VA KHU VỰC NGHIÊN COU 1-1 Tổng quan vé các nghiên cứu chit lượng nước LLL Nghiên cứu trên thé giới Trên thé giới hiện nay tủy thuộc vào vi tỉ địa lý, điều kiện tự nhién, hiện rạng chất lượng nước của mỗi vùng, mỗi quốc gia mà có nhiều cách tiếp cận và xây dựng mô hình chi số chất lượng nước khác nhau, trong đó một số mô hình chỉ số chất lượng nước (WQI) được áp dụng phổ biến trên thé giới “Theo Meybeck et al. (1996), CLN thể hiện sự thích hợp của nguồn nước để duy trì các chủ trình lý - hóa ~ sinh xảy ra trong nước và phục vụ các mục dich sử dụng khác nhau. Chất lượng nước có thể được xác định bởi một loạt các tham số khác nhau nhằm.
xác định mục đích sử dụng của từng nguồ “Chất lượng nước phụ thuộc vào him lượng các thông số lý ~ hóa ~ sỉnh có trong nước. “rong khi đó, hàm lượng những thông số này phụ thuộc vào các yếu tổ tự nhiên (như địa chất địa hình, khí tượng, thủy văn, sinh học) của lưu vực sông và dao động theo mùa tùy thuộc vào điều kiện dòng chảy, thời tiết và mực nước. Ngoài ra, sự can thiệp của con ngưi cũng có ảnh hưởng đáng ké đến chất lượng nước: thay đổi dòng chảy thủy văn (xây dựng các đập nước, thoát nước.), xả thải gây 6 nhiễm (nước thải sinh hoạt công nghiệp, đô thị, ly lan hóa chất trên đắt nông nghiệp thuộc lưu vực sông. Theo Cooke et al.
Do vậy, để khắc phục các hạn chế trên, chỉ số CLN, (Water Quality Index ~ WOI) được xây dựng và ứng dụng. WOI là một chỉ số được tinh toán từ các thông số quan trắc chit lượng nước, ding để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đỏ; được biểu diễn qua một thang điểm (Tông cục Môi trường, 2011). Nghiên cứu chỉ s N được dé xuất và áp dụng. dẫu tiên tại Mỹ vào những năm 1965 — 1970; sau đó được nghiên cứu, phát triển và ‘ing dụng thành công ở nhiều quốc gia như: Canada, Anh, Úc, Việt Nam WQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation-NSF): được cđùng phổ biến nhất trên thé giới, xây dựng dựa theo phương pháp Delphi, tổng hợp ý 5 kiến của các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số DO, Fecal Coliform, BODS, pH, NO3-, PO43-, Nhiệt độ, Độ đục và TS từ đó đánh giá được CLN WOI của bang Origon: phin tích và phát triển chỉ số WOI dựa trên WOL_NFS với 8 thông số chính là: Nhiệt độ, pH, DO, BOD, TN, TP, TS và colifom, phương pháp Delphi và Rating Curve được sử đụng để tinh toán chỉ số phụ.
WoI của bang Floria: sử dụng các thông sổ: Độ đục, TSS, DO, COD, BOD, TOC, tổng N, Nitrat, tổng P, tông Coliform va Fecal Coliform; phương pháp Rating Curve được sử dung để tinh toán chỉ số phụ cho các thông số tein. Chi số cuỗi cũng bing trung bình cộng của các thông số phụ, phương pháp này không sử dung trọng số. WO! của Canada (WQI - CCME): dựa trên tt cả các thông số có trong kết quả quan trắc như BOD, COD, pH, DO. WOI-CCME là một công thức định lượng với các thông số có giá tri như nhau (không tinh trong số) nên dé dàng cho việc tính toán, Wo của Cúc nước Châu Âu và Malaysia, An Độ chủ yéu được xây dựng phát tiễn từ 'WQI — NSF (của Mỹ), tuy nhiên mỗi Quốc gia — địa phương lại lựa chọn các thông số.
ảnh giá và phương pháp tinh chỉ s6 phụ riêng tủy mục đích sử dụng tinh toán Tổng cue Mỗi trường, 2010). Như đã đề cập, WQI được xây dung, phát trién và ứng dung khá phổ Horton, (1965), Bhargava(1983), Nagels (001), Curtis (2001), Chaturvedi và Bassin (2010),Mihäiles Tania et al (2013), Prema Sharmaa et al (2014), Hefai Effendia et al (2015). Ngoài ra, Rudolf et al (2002) thực hiện ước tinh mức độ ảnh hưởng của nước thải công nghiệp và dé thị trên vùng vịnh San Vicente bằng cách sử dụng hàm lượng DO thâm hut như một chỉ số chất lượng nước. Bên cạnh đó, William (2006) đánh giá chất lượng nước mat bằng ky thuật thống kê đa biển, áp dụng cho lưu vực sông Fuji, 'Nhật Bán cho thấy sự hữu ích của phương pháp này trong việc phân tích và giải thích các tập hợp dữ liệu phức tạp trong đánh giá chất lượng nước, xác định nguồn ô nhiễm và sự biến đổi chất lượng nước theo không gian, thời gian, hỗ tg dic lục cho công tác cquản lý chất lượng nước sông.
Các thông số sử dụng trong nghiên cứu nay bao gồm BOD, pH, nitrate, amoni, độ dẫn điện và nhiệt độ. 6 112 Nghiên cứu tai Việt Nam Mot trong những công trinh nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về chi số chất lượng nước là nghiên cứu của Lê Trình (2006)(8 thông số), sau đó là Tôn Thất Lang (2007)(6 thông sé), Phạm Thị Minh Hạnh (2010), New én Văn Hop và nnk (2010), Dương ‘Thanh Nga (2012). “Cũng sit dung chi số WO — NFS nhưng kết hợp với phần mém SHADM nhằm phát trin mô tả xu hướng lan truyền 6 nhiễm, dự báo chất lượng nước và tính toán tải lượng tối da ngày được phép xa thai, Nguyễn Ky Phùng và Lê Ngọc Tuấn (2012) đã hành nghiên cứu, đánh giá hiện trang CLN sông Bến Lite dựa trên 28 thông số LN. Nghiên cứu của Phạm Thể Anh và nnk (2013) sử dung công thức tinh WOI theo “Quyết định số 879/QD ~ TMT cia Tổng cục Môi trường để dinh giá tổng quát hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt của thành phổ Đà Lat.
‘Theo Phạm Ngọc lồ (2011): + Phương pháp chỉ số chất lượng nước (WO) của Mỹ tính đến trong số Wi -cho điểm từ 0-1 theo ý kiến chuyên gia, do vậy trọng số nảy mang tính chủ quan. Thang phân cấp đánh giá là tự quy định, không phụ thuộc vio tổng số n của các thông số khảo sit nên dẫn đến ngưỡng đánh giá có thé không phủ hợp với thực tế và số các thông số khảo sát còn hạn chế (9 thông số). Đặc biệt, vị tính chỉ số phụ phải xây dựng các, giản đồ tương ứng quá phức tạp + Phương pháp đánh giá chất lượng nước CWQI (Canada) có ưu điểm không hạn chế số các thông số khảo sắt n, nhưng chưa tỉnh được g tị Wi g thông số khảo sắt Thang đánh giá vẫn mang tinh chủ quan và cổ định, nên ngưỡng đánh giá có thể sai lệch với thực tế "ĐỂ khc phục những hạn ché nêu trên, GSTS Phạm Ngọc Hồ đã tiến hành cải tiến phương pháp đảnh giả chit lượng thành phin môi trường (đắt, nước, không khi) bằng chỉ tiêu tổng hop có trọng số và quy chun vỀ một thông số (chit) ti cùng một mốc: tinh toán ban đầu, lâm cơ sở cho việc xây dựng chỉ số chất lượng môi trường tổng cộng (TEQN). Uu điểm của phương pháp là đã xót đến tính độc hại của từng thông số dược gắn bôi trọng số tương ứng và thang phân cấp phụ thuộc vào số thông số khảo sát ~ có cơ sở khoa học và phủ hợp khi áp dụng vào thực tế, Ngoài ra, tại Việt Nam còn có mô hình WQI của Tôn Thất Lang (2006) áp dung cho sông Đẳng Nai: sử dụng phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỉ lệ để lựa chon cúc thông số phục vụ tính WOI cho sông Đẳng Nai, bao gồm BOD, TN, DO, SS, pH- Coliform.Bên cạnh đó, Lê Trình (2006) đề xuất các mô hình WOI (HCM-WOI, 'NSF-WQOI/HCM, WQIBHCM), tính toán dựa theo 2 mô hình WQI cơ bản của Hoa Kỳ: và Ấn Độ.
Ủy ban sông Mekong xây dựng mô hình WOI bao gồm: DO, Amoni NHA+, COD và Tổng P. Đối với mô hình WQI của Phạm Thị Minh Hạnh (2010), WQI được chia làm 2 laại: WOI cơ bản IB (COD, BODS, DO, turbidity, SS, NH - N, PO43~P and T.coli) và WOI tổng hợp IO (8 thông số cơ ban kể trên và pH, nhiệt độ, các kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Mỗi thông số sẽ xác định Wi. WQI cuối cùng được xác định bằng việc kết hợp phương pháp trung bình cộng và trung bình nhân không trọng Để thống nhất cách tính toán chỉ WAI, thing 07 năm 2011, “Tổng cục Môi trường đã chỉnh thức ban hành Số tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chất lượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMTngày 01 tháng 07 năm 2011 của “Tổng cục trường Tổng cục Môi trường.
“Các thông số CLN được thé hiện qua 3 chỉ tiêu sau: chỉ tiêu vật lý (Độ pH, nhiệt độ, màu sắc, độ đục, TSS, TDS, TS, VS), chi tiêu hóa học (Độ kiểm toàn phản, độ cứng. cia nước, DO, BOD, COD, các hợp chất Nitø, các hợp chất Phospho.) và chỉ tiêu sinh học (vi tring, siêu vi tring và các loài thủy vi sinh khác) (Tôn That Lãng, 2007, Lê Xuân Phương, 2008; Đảo Duy Tân, 2013; Nguyễn Thị Thé Nguyên, 2013; Pham Anh Đức, 2011), “Cũng sử dụng chỉ số WOI — NES nhưng kết hợp với phin mm SHADM nhằm phát tr mồ tả xu hướng lan truyền 6 nhiễm, dự báo chất lượng nước và tính toán tải lượng tối đa ngày được phép xả thải, Nguyễn Ky PI ng và Lê Ngọc Tuấn (2012) đã hành nghiên cứu, đánh giá hiện trạng CLN sông Bến Lúc dựa trên 28 thông số CLN. Nghiên cứu của Phạm Thể Anh và nnk (2013) sử dụng công thức tính WQI theo Quyét định số 879/QĐ ~ TCMT của Tổng cục Môi trường để đánh giá tổng quit hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt của thành phố Đà Lạt 8 Theo Triệu Ảnh Ngọc (2019) “Đánh giá sức chịu ải của sông Cái và phân ving xã nước thải vào sông Cái đến năm 2025 tằm nhìn đến năm 203 *. Để đánh giá CLN ở, sắc con sông, kênh rạch, ao dim, các nhà khoa học thường đựa trên các thông số riêng biệt của C LN, sau đồ so sánh với các giới hạn được quy định trong các tiêu chuỗn quy chuẩn quốc gia.
Tuy nhiên, hạn chế của tiếp cận này là đánh giá riêng biệt CLN sẽ không dinh giá tổng quất được theo không gian và thời gian; hơn nữa, khi đảnh giá từng các thông số khác nhau, chỉ có các nhà khoa học, các nhà chuyên môn mới đánh. giá hết được thông số hiểu bị đt. Do vậy, để phục các hạn chế hi số CLN (Water Quality Index — WOI) được xây dựng và ứng dụng. WOI là một chi số được.
tinh toán tử các thông số quan trắc chất lượng nước. dig để mô tả định lượngvề chit lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm (Tổng cục Môi trường, 2011).