CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU, CƠ SỞ LÝ THUYET VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu Lang Việt là một chủ đề nghiên cứu lớn với nguồn tài liệu phong phú và đa dạng từ nhiều chuyên ngành, cách tiếp cận khác nhau. Vì thế, tổng quan tài liệu này sẽ được câu trúc thành các chủ đê quan trọng có ý nghĩa then chôt đôi với luận án. Không gian và sự phân loại không gian Kiến tạo không gian, không gian và thời gian Nỗi bật trong tài liệu nghiên cứu theo hướng tiếp cận không gian là lý thuyết “kiến tạo không gian" (production of space) của tác gia Henri Lefebvre, thể hiện rõ từ thập niên 1960 va đầy đủ nhất trong một cuốn sách có tựa đề The Production of Space [Henri Lefebvre, 1991].
Ở đó ông phân chia không gian xã hội thành ba trục chính mà ông gọi là “không gian nhận thức” (le percu hay perceived space), không gian hình thành (/e concu hay conceived space) và không gian sống (le vecu hay lived space). Từ quan điểm cho rằng “không gian là một sản phẩm xã hội” nên nó cũng có vai trò như một công cụ của tư duy và hành động, đồng thời là phương tiện kiểm soát và cai trị. Từ đó, các mối quan hệ xã hội mới đòi hỏi một không gian mới, và ngược lại [Nguyễn Văn Chính, 2020]. Khi coi không gian không hề tĩnh, mà biến đối theo thời gian, Lefebvre cho thấy một luận điểm quan trọng khác là không gian gan với thời gian và cuộc sống hằng ngày, thời gian ấn dấu trong không gian, và như vậy sự kiến tạo không gian gắn với thời gian [Trần Quang, 2013].
Theo hướng này, Mike Crang [2000] cũng nhấn mạnh rằng không gian và thời gian thường nuôi dưỡng lẫn nhau trong cặp đối lập nhị phân, từ đó dẫn đến một sự kết hợp không gian va thời gian. Tác giả Vũ Văn Quân [2009] đã sử dụng khái niệm “không gian lịch sử - văn hóa” dé phân tích về các “lớp Hà Nội” và cho rằng không gian lãnh thé hành chính phụ thuộc vào sự chia cắt của cấp quản lý hành chính và nó luôn biến đổi, nhưng không gian lịch sử văn hóa thì lại là kết quả, tích tụ của quá trình hình thành lịch sử 12 lâu dài vì thé nó ít biến đổi, đôi khi thường được coi như là những đặc trưng của khu vực. Như vậy, tác giả dường như đã nói đến “không gian lịch sử - văn hóa” với ý nghĩa là một “không gian - thời gian”, tính thời gian của không gian đã được làm nổi bật trong nghiên cứu này. Đây cũng là một hướng tiếp cận quan trọng được nhiều nhà sử học Việt Nam theo đuổi trong các nghiên cứu của họ từ trước đó [Nguyễn Đức Nghinh, 1982; Phan Dai Doãn, 2007].
Không gian - nơi chốn, biểu tượng Không gian gắn với nơi chốn là một cách tiếp cận khác trong hướng nghiên cứu không gian. Trong khi định nghĩa về không gian, nhóm nghiên cứu của Viện Isee cho rằng, khái niệm không gian “space” khác với “place” ở chỗ nó nhắn mạnh đến sự cảm nhận vả trải nghiệm [Lê Quang Bình, 2008]. Georges Condominas [2007] từ cách tiếp cận không gian gắn với “nơi chốn” của tộc người đã tự giới hạn phạm vi và cách nhìn không gian ở chiều cạnh xã hội tộc người. Vì thế, những phân tích không gian của tác giả thể hiện rõ mối quan hệ giữa “không gian” với “thời gian sinh thái”, mối quan hệ với môi trường, sự trao đôi của cải, quan hệ họ hang láng giềng.Tất cả mối quan hệ này được “định vị” trong không gian của tộc người.
Đồng thời với việc thừa nhận khái niệm không gian có hàm ý nơi chốn. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã ít nhiều gắn không gian với địa vực. Chang han, tac gia Tran Quéc Vuong [2005] dé cap đến khái niệm “không gian địa - văn hóa” như là kết quả của sự thích nghỉ của con người các điều kiện môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý nhất định của nơi chốn thông qua đó kiến tạo nên văn hóa của chính họ. Ngoài ra gắn không gian với biểu tượng của quyền lực cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó nổi bật là các nghiên cứu của Pierrer Bourdieu [1989] về không gian xã hội và biểu tượng quyền lực “Social space and symbolic power” cho rằng, phân tích vị trí trong không gian sẽ cho thấy vị trí của quyền lực.
Không gian xã hội có xu hướng hoạt động như một không gian tượng trưng, một không gian của lôi sông và các nhóm khác nhau. 13 Phân loại không gian Phân loại không gian là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu về không gian. Georges Condominas [2007] và Olivier Tessier [2002] cho răng không gian có tính phức tạp và thật khó để phân loại/ vạch đường biên giữa chúng. Các tài liệu nghiên cứu xác định có nhiều loại không gian.
Tác giả Nguyễn Văn Sửu đề cập đến ba cách phân loại không gian, đó là “không gian vật thé’ (physical space) được sử dụng để nhận dạng các sự vật cụ thé có thé kẻ vẽ va được xã hội nhận thức là “các thực tiễn địa ly’ (các nhà địa văn hóa còn sử dụng khái niệm ‘landscape’ khi họ nói đến mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và xã hội loài người). Không gian thứ hai là 'không gian tưởng tượng' (imagined space), tức là 'các ý tưởng về không gian". Không gian thứ ba là “không gian s6ng’ (lived space). Ba loại không gian này cho phép làm rõ việc không gian có liên quan như thế nào đến các sự kiện, kiến trúc, biên giới chính trị và tham vọng cá nhân.
Ngoài ra, bài viết của tác giả cũng đề cập đến 4 nguyên tắc trong phân tích không gian, đó là mọi không gian đều có thể bị xuyên qua; không có ranh giới rạch ròi giữa các không gian; không có không gian tĩnh và ôn định; và không có một loại không gian duy nhất. Ngoài ra còn có các loại không gian như: không gian công, không gian tư, không gian thiêng, không gian giới, v. Nổi bật trong cách phân loại không gian là sự phân chia không gian thành cặp phạm trù không gian công (public space) và không gian tư (prive space). Không gian công là loại hình không gian được các nhà nghiên cứu, các nhà chính trị và kiến trúc quan tâm từ khá sớm.
Năm 1784, triết gia Emmanuel Kant đã đề cập và nhắn mạnh răng việc sử dụng lý tính trong không gian công cộng chính là điều kiện dé hình thành nên công luận và đây cũng là điều kiện dé thiết lập một nền dân chủ. Theo ông, người độc thoại chỉ đối diện với chính mình, chỉ khi tranh luận với người khác về những vấn đề công cộng thì người ta mới thoát ra khỏi những chuyện cục bộ, cá biệt, mới vượt qua được cái "tính thô thiên" của mình. Habermas phát triển từ luận điểm của Kant cho rằng không gian công cộng đóng vai trò trung gian giữa xã hội công dân và nhà nước, buộc nhà nước phải chịu trách nhiệm trước xã hội do 14 "tính công cộng" của nó. Không gian công cộng tự nó mang tính chất phê phán bởi lẽ nó giả định rằng phải có những thông tin về các hoạt động của nhà nước dé công luận có thé xem xét và phê phán các hoạt động này [Trần Hữu Quang, 2014].
Sandra Kurten cũng xem xét hướng tiếp cận “không gian công” như là một hướng dé giải thích về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Theo tác giả, ngay từ chương trình cải cách kinh tế trong công cuộc đổi mới của Việt Nam năm 1986, người ta đã nhận ra sự biến đổi vật thé của không gian công cũng như sự biến đổi ý nghĩa biểu trưng của nó. Trong khi khu tư nhân đang thống trị sự phát triển của không gian công và bán công cộng mới, ví dụ như các khu đô thị mới, thì dân chúng ở Hà Nội đã dần xác định lại không gian công đang tồn tại bằng việc sử dụng chúng vào các hoạt động xã hội và kinh tế tư nhân. Từ đó, tác giả đưa ra các thảo luận về mỗi quan hệ tương quan giữa khu công cộng như một thực thé chính tri/x4 hội và hình thái học với thực tiễn của không gian công [Sandra Kirten, 2008].
Michael Di Gregorio [2008] cho rằng các biểu hiện trong không gian công Hà Nội thé hiện quá trình thương lượng liên tục giữa nhà nước và xã hội: nhà nước thiết lập không gian công thông qua việc áp đặt các luật lệ và bộ máy kiểm soát, trong khi xã hội - vì mục đích hoạt động hằng ngày - không ít khi vi phạm các quy định được dé ra. Chính các thương lượng hằng ngày nay đã góp phan thúc đây các thay đồi chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực công. Tranh luận này, có lẽ bắt nguồn từ luận điểm đáng chú ý trong lý thuyết kiến tạo không gian của Lefebvre đó là sự tác động ngược của các yếu tố mang tính ban năng xã hội lên thượng tang kiến trúc, có sự “vênh” giữa các áp đặt mang tính chủ quan của thượng tầng kiến trúc với thực tế cuộc sống (hay lối sống tư duy hàng ngày). Các tác động ngược đóng vai trò quan trọng, mang tính điều chỉnh, khiến không gian công phát triển hài hòa hợp lý hơn [Nguyễn Thanh Bình, 2017].
Cũng thuộc phạm trù không gian công, không gian thiêng được khá nhiều học giả quan tâm. Các nghiên cứu theo hướng này cho thấy sự biến đổi tính thiêng và sự đa dạng trong tiếp cận. Con người khoác màu sắc thiêng cho một không gian dựa trên những gì họ và cộng đồng trải nghiệm nhằm một mục dich cụ thé nhất định. Tính thiêng trong không gian là sự tự bảo vệ để tránh bị xâm lắn.
Con người đã gan 15 “cái thiêng” cho một không gian, gắn nó và định vị nó trong mối tương quan với nền văn hóa và gắn nó với sự trải nghiệm của các cá nhân, của cộng đồng hay với những động cơ tinh thần nhất định [Pham Quỳnh Phương, 2010]. Nhu vậy, không gian thiêng là một sự kiến tạo xã hội, vì con người tạo ra “không gian thiêng” cho chính mình và cộng đồng và ngược lại, chính cái không gian thiêng ấy lại góp phần không nhỏ đảo luyện chính họ [Đỗ Quang Hưng, 2010]. Việc con người thiêng hóa hay giải thiêng một không gian cụ thể nào đó là sự ứng xử của con người với môi trường sống, giữa con người với con người trong các bối cảnh cụ thể [Nguyễn Công Thảo, 2008]. Khi nghiên cứu về không gian thiêng của người Việt, L.
Cadière [2003] nhận xét: “người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên, họ đều cảm thấy mình trực tiếp thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên.