Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái niệm về du lịch Du lịch là một trong những hoạt động của con người, nó xuất hiện từ khá lâu, khi điều kiện khoa học, kinh tế, kỹ thuật còn ở một trình độ rất thấp thì cũng đã xuất hiện rất nhiều hoạt động giao du của một bộ phận con người. Và kinh tế xã hội phát triển, trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ… ngày càng phát triển, thì nhu cầu du lịch cũng không ngừng phát triển và trở thành nhu cầu của xã hội. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này. Theo các chuyên gia tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp ở Roma – Italia (21/08 – 05/09/1963) thì khái niệm du lịch được hiểu: “Du lịch là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. [34] Theo Liên Hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một video kiếm tiền sinh sống… [44] Theo giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf, hai người được coi là những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: di lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đô không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời. [34] Theo Luật du lịch Việt Nam (2017): du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. [25] 19 Luan van Như vậy, có thể tạm định nghĩa về du lịch như sau: du lịch là hành động tạm rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của con người để đi đến một, hoặc nhiều nơi khác nhau nhằm thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu, như: tìm hiểu về kinh tế, văn hóa, xã hội, tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thể thao và các hoạt động khác trong một khoảng thời gian xác định.
Sau này, du lịch trên thế giới ngày càng phát triển, đi du lịch không chỉ dừng lại ở một nhóm người mà ngày càng được phổ biến hơn trong xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng phát triển hơn, nhu cầu du lịch ngày càng phong phú và đa dạng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng du khách, hệ thống các tổ chức, cá nhân ra đời để kinh doanh ngành công nghiệp này, nó không tồn tại đơn lẻ mà thường gắn kết chặt chẽ với nhau để hình thành ngành kinh doanh du lịch. Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát về ngành du lịch như sau: Theo tác giả, du lịch là một hệ thống văn hóa, kỹ thuật, kinh tế - xã hội với mục tiêu là khai thác tài nguyên du lịch, sử dụng các phương tiện nhân lực, vật lực tạo nên những hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau cả về vật chất và tinh thần của du khách nội địa, du khách quốc tế trong quá trình thực hiện chuyến đi.2 Khái niệm về du lịch cộng đồng DLCĐ phát triển ở Việt Nam vào cuối những năm 1980 và ngày càng được coi trọng từ sau những năm 1990. Khái niệm về DLCĐ trong nghiên cứu này dựa vào đặc điểm của cộng đồng dân cư với tư cách là thành phần cốt lõi.
Theo Quỹ bảo tồn Thiên nhiên thế giới WWF: “DLCĐ là loại hình du lịch mà ở đó CĐĐP có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự nghiệp phát triển và quản lý các hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng. [45] Theo quỹ phát triển Châu Á: “DLCĐ là một loại hình do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu du khách các nét đặc trưng địa phương”. [29] Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wolffang Strasdas cho rằng: “Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng 20 Luan van ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.
[24] Theo luật du lịch 2017, DLCĐ được hiểu là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi. [25] Như vậy, có thể khái niệm về du lịch cộng đồng như sau: du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch cộng đồng địa phương, do người dân địa phương phối hợp tổ chức và quản lý nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho địa phương nói chung, góp phần quảng bá văn hóa, hình ảnh đặc sắc của địa phương đến các nước trên thế giới.3 Đặc điểm của du lịch cộng đồng DLCĐ đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững, cân bằng với các chỉ tiêu kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường, trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa được khai thác hợp lý. DLCĐ chính là cách tốt nhất vừa làm du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hóa, sử dụng dịch vụ tại chỗ, phát triển giá trị văn hóa bản địa. DLCĐ thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Thu nhập từ DLCĐ được giữ lại cho cộng đồng để bảo vệ môi trường và tái đầu tư cho du lịch địa phương. DLCĐ là loại hình du lịch mà cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động từ bảo tồn, quản lý đến khai thác giá trị du lịch từ các nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) và môi trường du lịch, giữ vai trò chính trong các hoạt động kinh doanh du lịch như kinh doanh lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và kinh doanh các dịch vụ, hàng hóa, vui chơi, giải trí, hướng dẫn, tư vấn các hoạt động kinh tế và xã hội liên quan đến du lịch của địa phương. Cộng đồng dân cư phải là người dân làm ăn, sinh sống hoặc liền kề với các điểm TNDL, đồng thời cộng đồng dân cư phải có quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia khai thác và bảo vệ TNDL, ngăn ngừa các tác động xấu từ các hoạt động kinh doanh du lịch và từ các hoạt động của du khách. DLCĐ còn bao gồm các yếu tố trợ giúp của cơ chế chính sách, của các cơ quan quản lý nhà nước về dụ lịch, các tổ chức, các cá nhân, các công ty lữ hành… nhằm phát huy lợi thế nguồn lực phát triển du lịch tại nơi có dân cư sinh sống gắn với nguồn TNDL.
21 Luan van DLCĐ giúp nhiều thành phần trong xã hội có thể di du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch, đồng thời là công cụ tham gia việc giảm nghèo của cộng đồng, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương (CĐĐP), đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương thông qua bán các sản phẩm du lịch, tạo ra thị trường hàng hóa và dịch vụ, góp phần phát triển du lịch, nâng cao hình ảnh của điểm đến du lịch.4 Các loại hình du lịch cộng đồng Theo quỹ Châu Á và Viện nghiên cứu và Phát triển ngành nghề Nông thôn Việt Nam, du lịch cộng đồng được sở hữu và quản lý bởi cộng đồng, nên sẽ có các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn Du lịch, Du lịch Làng, Du lịch dân tộc hay bản địa, và du lịch văn hóa. Ngoài ra, việc thúc đẩy nghệ thuật và hàng thủ công địa phương có thể là một thành phần quan trọng trong các dự án Du lịch cộng đồng và trong các hình thức chủ đạo của ngành du lịch. [28] Du lịch sinh thái: là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên (đặc biệt là trong các khu vực cần được bảo về và môi trường xung quanh nó) và kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa – xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường. Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có sự tham gia của tất cả các bên liên quan.
Du lịch văn hóa: du lịch văn hóa là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, là yếu tố thu hút khách chủ yếu của cộng đồng địa phương. Vì dụ về du lịch dựa vào văn hóa bao gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nghiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng dân tộc thiểu số. Du lịch nông nghiệp: đây là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cây ăn trái, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật, đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch. Khách du lịch xem hoặc tham gia vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp như làm việc với dụng cụ của nhà nông hoặc thu hoạch mùa mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc năng suất của gia đình chủ nhà.
Một sản phẩm mới đặc biệt là nghỉ ngơi ở các trang trại hữu cơ, nơi du khách có thể tìm hiểu thêm về thiên nhiên và học tập các phương pháp canh tác không dùng thuốc trừ sâu. 22 Luan van Du lịch bản địa: Du lịch bản địa/ Dân tộc đề cấp đến một loại du lịch, nơi đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, nền văn hóa vốn có của họ chính là yếu tố chính thu hút khách du lịch. Du lịch làng: Khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản, và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch.