Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Lý luận về chính sách phát triển du lịch 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm du lịch, phát triển du lịch * Du lịch Tại Khoản 1, Điều 3 Luật Du lịch (2017) đã quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [26].
Trên thực tế, ngành du lịch Việt Nam vẫn còn đang ở dạng tiềm năng, những lợi thế về du lịch hiện nay mới chỉ được khai thác ở mức độ cơ bản. Tuy vậy, với những bước đi thử nghiệm về các loại hình du lịch mới, du lịch Việt Nam đã gặt hái được những thành công đáng kể. Một số loại hình du lịch tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay như: Du lịch tham quan: Đây là hình thức du lịch truyền thống ở Việt Nam, tại Việt Nam có được sự đa dạng và phong phú của yếu tố tự nhiên, mặt khác danh lam thắng cảnh trải đều ở 63 tỉnh, thành trong cả nước, những địa điểm du lịch nổi tiếng như: Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, Đà Lạt, Sa Pa, Nha Trang,. Du lịch văn hóa: du lịch lễ hội, du lịch hoa, điển hình như Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, hội Chùa Hương, hội Lim,.
Với loại hình này, du khách có thể vừa thăm quan vừa kết hợp du lịch văn hóa. Du lịch ẩm thực: Những bữa tiệc cung đình Huế hay ẩm thực ba miền Bắc, Trung, Nam. Nét tinh tế của ẩm thực Việt Nam chịu sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố lịch sử, khí hậu, điều kiện tự nhiên. Du lịch xanh: Gần đây du lịch hướng về thiên nhiên trở thành một xu hướng chung không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới, hình thức du lịch này gần gũi, đồng thời có thể phát huy được hết vai trò của yếu tố thiên nhiên, lợi thế tự nhiên 9 Luan van của một quốc gia.
Du lịch sinh thái nổi tiếng ở Việt Nam, như: Nhà vườn Huế, hồ Ba Bể, U Minh Thượng,. Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh như: tắm nước khoáng Kim Bôi - Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết,. Du lịch MICE: Loại hình du lịch này theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội thảo. Mice là dạng du lịch tập thể dành cho các doanh nghiệp, công ty.
Teambuiding: Teambuiding tour kết hợp du lịch thăm quan, nghỉ dưỡng với các chương trình Team nhằm xây dựng, tăng cường tinh thần đoàn kết, tập thể, loại hình du lịch này đang được nhiều doanh nghiệp, công ty ưu chuộng nhằm nâng cao vai trò đoàn kết giữa các nhân viên với nhau. * Khái niệm phát triển du lịch Ngày 16 tháng 01 năm 2017, Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết số 08- NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Nghị quyết này đã khẳng định: phát triển du lịch đã, đang góp phần trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân; góp phần tích cực đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam [5]. Vì vậy, có thể thấy rằng, phát triển du lịch là sự phát triển mà trong đó vừa đáp ứng các yêu cầu về kinh tế - xã hội vừa phải đảm bảo trong việc bảo vệ môi trường. Điều 4, Luật Du lịch năm 2017 quy định nguyên tắc phát triển du lịch như sau: (1) Phát triển du lịch bền vững, theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm; (2) Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng; (3) Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; (4) Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; (5) Phát triển đồng thời du lịch nội địa và du lịch quốc tế; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch [26].
Khái niệm về chính sách, chính sách phát triển du lịch * Khái niệm chính sách Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì chính sách là những chuẩn tắc, quy định cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ, chính sách được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, áp dụng trên những lĩnh vực cụ thể. Bản chất, nội dung và mục tiêu, phương hướng, giải pháp của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.đã xác định trước đó” [37]. Có thể nhận thấy, khi gắn với việc thực hiện chức năng, vị trí, vai trò của nhà nước (khu vực công) thì chính sách được gọi là chính sách công. Thuật ngữ chính sách được sử dụng trong luận văn này cũng được hiểu là chính sách công.
“Chính sách công” được sử dụng phổ biến trong các văn bản, tài liệu, tuy nhiên nó lại là một thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng. Theo tác giả James Anderson thì Chính sách công được coi là đường lối hành động có mục tiêu, mục đích, được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị, nhằm giải quyết một hoặc nhiều vấn đề phát sinh, cần quan tâm.Guy Peter thì cho rằng, Chính sách công chính là toàn bộ hoạt động ứng xử của nhà nước, nó có ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân trong xã hội. Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải thì Chính sách công là tập hợp những hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều cách thức, hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển tiến bộ. Thông qua một số cách hiểu trên thì học viên đồng ý với cách hiểu và tiếp cận về định nghĩa chính sách công của tác giả Nguyễn Hữu Hải.
Đây là cách tiếp cận này dễ hiểu nhất, cho thấy chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước, chính sách công được thể hiện trong nhiều quyết định (hành động ứng xử của Nhà nước) có mối liên quan với nhau, tập trung giải quyết một vấn đề công (vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng) để đạt được các mục đích, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Khi đề cập đến chính sách công, người ta thường đề cập đến chu trình (quy 11 Luan van trình) của một chính sách công, bao gồm: xây dựng, tuyên truyền, tổ chức thực thi, điều chỉnh, thanh tra, tổng kết, đánh giá chính sách. * Khái niệm Chính sách phát triển du lịch Chính sách phát triển du lịch là việc cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thông qua các quyết định, quy định của Nhà nước, nhằm xử lý, giải quyết các vấn đề xoay quanh việc phát triển du lịch; nhằm đạt được mục tiêu phát triển du lịch mà Nhà nước đã đề ra nhờ việc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến phát triển du lịch của đất nước nói chung và của các vùng miền, các lĩnh vực du lịch nói riêng, khi nghiên cứu, đề cập đến chính sách phát triển du lịch thì cần phân tích theo các nội dung sau: - Phạm vi và đối tượng của chính sách phát triển du lịch Chính sách phát triển du lịch được Nhà nước ban hành nhằm hướng đến xử lý, giải quyết vấn đề trong quá trình phát triển du lịch, khi chính sách phát triển du lịch được ban hành, có hiệu lực thì sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự phát triển du lịch trong phạm vi toàn quốc nói chung, ở những phạm vi vùng miền, lĩnh vực nói riêng. - Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch Có thể thấy, trong việc đề ra chính sách phát triển du lịch, ngoài thực hiện một mục đích, mục tiêu cụ thể nào đó thì trước hết cần đạt được mục tiêu chung là phát triển du lịch bền vững.
Có nghĩa là, việc đề ra và thực hiện chính sách du lịch, dù ở phạm vi vi mô, thì cũng cần có sự thống nhất với các chính sách phát triển du lịch chung khác, với các chính sách khác, để tránh trường hợp chồng chéo hoặc khó triển khai khi đưa chính sách vào đời sống xã hội. - Giải pháp của chính sách phát triển du lịch Vì mục tiêu của chính sách phát triển du lịch thể hiện ở các cấp độ khác nhau nên các giải pháp, định hướng của chính sách phát triển du lịch cũng được điều chỉnh và cụ thể hóa cho phù hợp với từng đối tượng, từng vùng, từng địa phương trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách. - Nguyên tắc chỉ đạo thực hiện chính sách phát triển du lịch Trên cơ sở mục tiêu, định hướng và giải pháp đã được xác định từ đầu, các 12 Luan van nguyên tắc chỉ đạo được xây dựng, hình thành, các nguyên tắc chỉ đạo có vai trò quan trọng, nhằm đưa chính sách vào đời sống, đồng thời đảm bảo việc triển khai thực hiện chính sách được thành công, có hiệu quả. - Nguồn lực thực hiện chính sách phát triển du lịch Vấn đề nguồn lực là vấn đề quan trọng vì nếu nguồn lực để triển khai thực hiện chính sách không được chuẩn bị, tính toán một cách chính xác, kỹ lưỡng thì sẽ không thể triển khai chính sách một cách hiệu quả, có chất lượng.
Tùy vào nội dung của chính sách thì nguồn lực thực hiện chính sách bao gồm cả nhân lực và tài chính, hoặc chỉ là tài chính hoặc nhân lực. - Cơ quan quản lý và thực hiện chính sách phát triển du lịch Trong việc triển khai thực hiện chính sách, các nhà quản lý cần phân biệt rõ chủ thể ban hành chính sách, cơ quan, cá nhân quản lý việc triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch; chủ thể thực hiện chính sách, cơ quan, cá nhân phối hợp triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của chính sách.