Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sáng tạo Chương 2: Điều kiện, thực trạng phát triển du lịch sáng tạo tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chương 3: Định hướng và khuyến nghị phát triển du lịch sáng tạo tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. 11 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN DU LICH SANG TẠO 1.1 Một sô khái niệm liên quan 1.1 Du lịch, điểm đến du lịch Khái niệm “du lịch” đã được sử dụng rộng rãi trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, khái niệm này cũng đang còn nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên được bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn.
Liên đoàn Quốc tế các Tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization — IUOTO) đã đưa ra khái niệm: “Du lich la hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải dé làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiêm tiên sinh sông. ” Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), thuộc Liên Hiệp Quốc đã đưa ra khái niệm: “Du lịch bao gom tat cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, kham pha va tim hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghệ và những mục đích khác, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền” Theo Điều 3, Luật du lịch sửa đối 2017 “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cu trú thường xuyên trong thời gian không qua 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu câu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. ” 12 “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được dau tư, khai thác phục vụ khách du lịch.2 Sáng tạo Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, khiến cho nhân tố quyết định sự phát triển của các quốc gia chủ yếu không phải là vốn, tài nguyên, mà chủ yếu là tri thức, tức là nguồn nhân lực với hàm lượng trí tuệ sáng tạo cao. Các quốc gia sẽ không thể phát triển nếu không có sáng tao dé tạo ra những sản pham mới ưu trội hơn.
Nâng cao năng lực sáng tạo là nhu cầu cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của các quốc gia. “Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới không phân biệt kết quả tạo ra nó có ý nghĩa hiện thực cụ thé hay có ý nghĩa về mặt tư duy - tình cảm”, Theo L. Đức Uy đã đưa ra khái niệm về sáng tạo như sau “Sáng tao là sự đột khởi thành hành động cua một san phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân, và những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy”.Torance (Mỹ) cho răng, “Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả” Với những định nghĩa trên, có thể thấy sáng tạo là hoạt động tạo ra những cái có giá trị mới. Tuy nhiên, trong thực tế có những cái mới (giải pháp mới, sản phẩm mới) nhưng lại không khả thi, không có giá trị.
Vì thế, theo một số tác giả, hoạt động sáng tạo không những tạo ra yếu tố “mới” mà còn tạo ra yếu tố “oa tri”. Chang hạn, trong Từ điển triết học, sáng tạo được hiểu “là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tỉnh thân mới về chất. Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, tổ chức quân sự. Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tỉnh than” 13 Mặc dù có sự khác biệt nhất định trong cách hiểu về sáng tạo nhưng các định nghĩa trên đều coi sáng tao là hoạt động tạo ra cái mới và có giá tri.
Tuy nhiên, theo một số tác giả sáng tạo có mối liên hệ mật thiết với giải quyết van dé, sáng tạo cần được coi như là kết quả của hoạt động giải quyết van đề.Lavsa (Tiệp Khắc cũ) cho rằng: “Sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới, cách giải quyết mới”. Ở đây, sáng tạo là giải quyết van dé theo cách mới. Trường phái Gestal thì lại cho rằng “sáng tao là sự thấu hiểu xuất hiện khi người tư duy nắm bắt được những nét chính yếu của van dé và mối quan hệ của chúng với giải pháp cuối cùng. Sáng tạo được coi là hoạt động giải quyết vấn dé đặc trưng bởi tính mới mẻ, tính phi truyền thong, sự bên bi và khó khăn trong hình thành van dé” Sáng tạo là hoạt động giải quyết vấn đề.
Ở đâu có sáng tạo thì ở đó chắc chắn có van dé, ở đâu có vấn dé thì ở đó có thé dẫn đến sáng tạo. Sáng tạo là nhằm giải quyết vấn đề đặt ra. Sáng tạo là hoạt động hướng đến đối tượng (đối tượng của van dé) dé vươn tới điều cần có (đó là mục đích của van đề nhưng hiện thời chưa thê đạt được với sự hiểu biết hiện thời). Điều cần có chính là sản phâm sáng tạo (đồng thời là giải quyết được van dé).
Tuy nhiên, việc giải quyết van đề có thé là do ngẫu nhiên, do ai đó mach bảo, hoặc do tài liệu đưa lại. Giải quyết van đề một cách ngẫu nhiên như vậy không phải là sáng tạo. Vì vậy, với sáng tạo thì hoạt động giải quyết vấn đề phải được coi như là kết quả tất yếu của quá trình tư duy của con người. Sáng tạo là hoạt động giải quyết vấn đề nên cũng là hoạt động giải quyết mâu thuẫn.3 Du lịch sáng tạo 1.1 Khái niệm Ngày càng nhiều người trên thé giới lựa chọn du lịch cho những kì nghỉ của mình, các hoạt động du lịch thường thấy đó là nghỉ đưỡng sau một thời gian dài làm việc và học tập, du lịch mạo hiêm tới những vùng đât mới và trải 14 nghiệm những dịch vụ ở đó, hay đơn thuần nhất đó là du lịch để tham quan, khám phá những văn hóa, con người vẻ đẹp của nhiều vùng đất mới, lạ.
Nhiều khách du lịch mong muốn những chuyến đi của mình có chiều sâu, dé lại nhiều dau ấn, không dừng lại ở việc ngắm nhìn, thưởng thức chiêm ngưỡng cảnh vật hay những di tích, di sản văn hóa, UNESCO gọi đó là “xu hướng mới cua du lịch” - du lịch sáng tao (creative tourism). Du lịch bị ảnh hưởng bởi “bước ngoặt sáng tạo” theo nhiều cách khác nhau như phát triển kỹ năng, sản pham du lịch và hoạt động thông qua việc lồng ghép tính sáng tạo vào các hoạt động du lịch, và du lịch trở thành một lĩnh vực sáng tạo. Do đó, nhiều lĩnh vực trong DL có thé được mở rộng dé thé hiện nhiều hơn các hoạt động sáng tạo truyền thống bằng cách khám phá vai trò cua sáng tao trong hoạt động du lịch. Mối quan hệ giữa sáng tạo và du lịch không phải là hiện tượng mới, nó đã mang những hình thái khác nhau theo thời gian (Marques và Borba, 2017).
Nhiều thành phố và khu vực trên thế giới sử dụng tính sáng tạo như một chiến lược dé đạt được tăng trưởng (Ray, 1998) do sự cạnh tranh cao giữa các khu vực và thành phố, do hàng hóa hóa, toàn cầu hóa và phát triển tri thức (Mommaas, 2009). Trong khoa học xã hội, “bước ngoặt sáng tạo” được phat triển từ “bước ngoặt văn hóa”, điều này dẫn tới việc tạo ra sự tích hợp giữa du lịch và sáng tạo ở các cấp độ khác nhau (Richards và Wilson, 2007). Sự tích hợp mới giữa văn hóa và du lịch thể hiện “bước ngoặt sáng tạo” bao gồm các yếu tố văn hóa như thước đo cho sự phát triển và tăng trưởng (Andersson và Thomsen, 2008), và điều này dẫn đến tầm quan trọng ngày càng tăng của du lịch sáng tạo. Hai nhà khoa học đã có những nghiên cứu đi đầu của phát triển những van đề có tính lý luận cơ bản về du lịch sáng tạo là tác giả Greg Richards, người Hà Lan, va tác gai Krispin Raymond, người New Zealand đã đưa ra 15 nhận định rằng du lịch sáng tạo là thông qua việc tham gia tích cực vào các lớp học và học hỏi những trải nghiệm đặc trưng của điểm đến, chuyến đi mang lại cho du khách cơ hội phát triển tiềm năng sáng tạo của mình.
Theo tác giả Georges Roussin đã trích dẫn định nghĩa của DLST trong bài báo Trào lưu du lịch sáng tạo như sau: “Du lịch sáng tạo là chuyền đi hướng đến và gan kết với một trải nghiệm chân thực thông qua việc tham gia các khóa học nghệ thuật, di sản hay một đặc điềm nào đó của địa phương và cung ứng sự liên kết với những người sinh sống và sáng tạo ra văn hóa sống tại điềm đến ” Phát triển cộng đồng theo hướng lâu dài và bền vững là mục đích mà du lịch sáng tạo hướng tới, khi tham gia vào loại hình DL văn hóa này, khách du lịch sẽ trực tiếp tham gia vào trải nghiệm các hoạt động văn hóa của địa phương như một thành viên thực thụ thay vì chỉ tham quan, chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của điểm đến. DLST đề cao sự liên kết, hòa nhập và tương tác giữa CDDP và khách du lịch để KDL có thé cảm nhận hết những giá trị văn hóa của vùng miễn, dat nước. Đối với DLST, đây là một dạng của DLVH nhưng được xem là xu hướng của thé hệ mới vì nó nhấn mạnh vào sự trải nghiệm thay vì chỉ tham quan. Chắc chắn DLST sẽ mang lại cho du khách nhiều trải nghiệm khác biệt, độc đáo so với các loại hình du lịch truyền thong của Việt Nam nói chung va Con Cuong nói riêng trước day.
Quan sát, chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn, cảm nhận là những yếu tố cơ bản của DLVH truyền thống, nhưng đối với DLST các yếu tố như học hỏi, tham gia vào quá trình trải nghiệm được nhấn mạnh và là điểm sáng của du lịch sáng tạo để tạo ra sự khác biệt. Tham gia vào các hoạt động của DLST khách du lịch có cơ hội thỏa mãn cảm xúc cá nhân thay vì chỉ nhìn các hoạt động của du lịch diễn ra đưới một lăng kính chủ quan.