Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. Sản phẩm du lịch và phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng 1. Sân phẩm du lịch 1. Khái niệm Để hiểu được khái niệm sản phẩm du lịch, trước hết ta phải phân biệt được sự khác nhau giữa sản phẩm hàng hóa thông thường và sản phẩm của ngành dịch vụ- du lịch.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mac — Lenin, sản phẩm hàng hóa thông thường (product) là kết quả của quá trình lao động, dùng dé phục vụ việc thỏa mãn nhu cau của con người. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, bat cứ thứ gi có thể đem ra mua bán, đáp ứng nhu cầu thị trường và mang lại lợi nhuận đêu được xem là sản pham hang hóa. Đối với khái niệm sản phẩm du lịch (tourism product, tourism marketing), hiện nay, tùy thuộc vào khía cạnh phản ánh và cách đánh giá, người ta đưa ra nhiêu quan điêm khách nhau. Đứng từ quan điểm của các nhà cung ứng dịch vụ cho khách du lịch, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) nhận định rằng khi tham gia một chuyến du lịch, khách du lịch nhất định sẽ phải sử dụng những sản phẩm dịch vụ từ cơ bản đến cao cấp do các cơ sở kinh doanh cung ứng.
Nhu vậy, “sản phẩm du lịch là một loại hình sản phẩm đặc biệt do nhiễu loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cẩu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình di du lich.” 14 Đứng dưới góc độ Marketing du lịch, người ta coi sản phẩm du lịch là “hỗn hop ba thành phan chính gồm sự cuốn hút, trang thiết bị tiện nghỉ và khả năng tiếp cận một điểm đến”. Quan niệm này hướng đến phương diện cảm nhận của khách du lịch nhiều hơn. Họ coi một sản phẩm du lịch thành công chính là sự trải nghiệm trọn vẹn của du khách trong chuyến đi và sự hài lòng tuyệt đối khi chuyến đi đã kết thúc. Luật Du lịch Việt Nam (2017) giải thích từ ngữ “sản phẩm du lịch” như sau: “Sdn phẩm du lich là tập hop các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá tri tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”.
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng cách giải thích này làm cơ sở cho bài khóa luận của mình. Theo cách giải thích này, một sản phẩm du lịch được tạo thành bởi các yếu tố: tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch và sự thỏa mãn của khách du lịch. Các yếu tố này có mối quan hệ bé trợ, là cơ sở tạo ra nhau. Trong đó, đóng vai trò quan trọng nhất là tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch là những điều kiện tự nhiên — nhân văn được khai thác để phục vụ phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lich tự nhiên (địa hình địa mạo, cảnh quan thiên nhiên, hệ động — thực vật, khí hậu, v.) và tài nguyên du lịch nhân văn (các giá trị văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội, công trình kiến trúc — điêu khắc, các thành tựu về chính trị, kinh tế, v. Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tai nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cẩu du lịch, là yếu tổ cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. Dịch vụ du lịch là yếu tố vô hình, không thé hiện bằng sản phẩm vật chất nhưng tính hữu ích của chúng lại mang lại giá trị kinh tế.
Các hoạt động này 15 được mang lại nhờ sự tương tác giữa các nhà cung ứng và khách du lịch. Thông qua đó, khách du lịch được đáp ứng nhu cầu của mình và nhà cung ứng thu lại được lợi nhuận. Các dịch vụ du lịch được xây dựng dựa trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch một cách hiệu quả. Sự thỏa mãn của khách du lịch hiểu đơn giản là sự hài lòng của du khách sau chuyến đi.
Trước mỗi chuyến du lịch, khách du lịch sẽ hình thành các yêu cầu, đòi hỏi nhất định đối với các yếu tổ thuộc điểm đến. Sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch và chất lượng dịch vụ ở điểm đến tạo nên sự hài lòng này. Như vậy, sản phẩm du lịch trước hết là một loại hàng hóa nhưng là loại hàng hóa đặc biệt. Nó cũng bao gồm người sản xuất (nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, người làm du lịch, kinh doanh du lịch); người tiêu dùng (khách du lịch), nguyên liệu (tài nguyên du lịch, chương trình du lịch, dịch vụ du lịch, hàng hóa, tiện nghi cung cấp cho khách du lịch); quá trình hình thành và tiêu thụ sản phẩm, như bat kì loại hang hóa thông thường nào khác.
Tuy nhiên, san phẩm của du lịch còn mang những đặc điểm riêng đặc trưng của sản phẩm của ngành dịch vụ. Đặc điểm của sản phẩm đu lịch Sản phẩm du lich mang những đặc điểm chung của sản phẩm ngành dịch vụ: Thứ nhất là tính phi vật chất. Đặc điểm này quy định việc khách hàng không thé nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm du lich từ trước. Dé giải quyết vấn đề này, khách du lịch buộc phải đến tận điểm du lịch và trải nghiệm sản phẩm.
Thứ hai, giống như bất cứ sản phẩm dịch vụ nào, quá trình sản xuất và tiêu dùng của sản phẩm du lịch được diễn ra một cách đồng thời. Đây là đặc trưng tiêu biểu của các sản phẩm ngành dịch vụ khác với sản phẩm hàng hóa thông thường. Đối với các sản phẩm thông thường, quá trình sản xuất diễn ra trước, tiêu dùng diễn ra sau. Bên cạnh đó, người ta cũng có thê sản xuât ở một 16 nơi và mang di tiêu thụ ở nơi khác.
Nhưng các sản phâm của ngành dịch vụ không như vậy, nó được sản xuât và tiêu thụ ở cùng một nơi. Do đó, những sản phâm của ngành dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng không thê lưu giữ ở kho bãi. Thứ ba, sự tiếp xúc, tương tác giữa khách du lịch và các nhà cung ứng là cơ sở hình thành các sản phẩm du lich. Sản phẩm du lịch được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa tài nguyên với dịch vụ du lịch để đem đến sự hài lòng cho du khách.
Về phía mình, khách du lịch cũng tác động ngược trở lại với sản phẩm du lịch thông qua những cảm nhận, mức độ hài lòng trong suốt chuyến đi và ngay cả khi chuyến đi đã kết thúc. Chính những phản hồi của khách du lịch giúp cho nhà cung ứng có sự điều chỉnh phù hợp dé hoàn thiện sản phâm du lịch của mình. Thứ tư là tính không chuyển đổi quyền sở hữu của sản phẩm du lịch. Đặc trưng này có thể hiểu như sau: khi khách hàng khi sử dụng các sản phẩm của du lịch thực chất chỉ là mua quyền sử dụng chứ không được sở hữu sản phẩm du lịch đó.
Ví dụ, khi tham quan Đại Nội Huế, khách du lịch được tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc của cung điện, được tận mắt chiêm ngưỡng các hiện vật tuy nhiên họ không có quyền sở hữu chúng. Thứ năm là tính không thể di chuyển được của sản phẩm du lịch. Các sản phâm du lịch được hình thành gắn liền với tài nguyên du lịch ở điểm đến, đây vừa là nơi sản xuất đồng thời cũng là nơi tiêu thụ của các sản phẩm du lịch. Điều này yêu cầu các nhà cung ứng sản phẩm du lịch phải không ngừng cải thiện, hoàn thiện các sản phẩm du lịch đồng thời đây mạnh quá trình quảng bá hình ảnh để thu hút khách đến với điểm du lịch.
Thứ sáu, các sản phẩm du lịch có tính thời vụ. Tính chất này do đặc trưng của tài nguyên du lịch quy định. Thông thường, mùa du lịch thường tập trung vào mùa xuân — hè khi mà cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, có nhiêu lễ hội 17 và du khách có thời gian rảnh rỗi để tham gia các hoạt động du lịch, những khoảng thời gian còn lại thường rất ít khách. Vì vậy, nhà cung ứng muốn thu được lợi nhuận tối đa cần phải có kế hoạch điều chỉnh việc phân bố và thúc đây quảng bá các sản phẩm du lịch trong khoảng thời gian trái mùa dé thu hút khách du lịch.
Thứ bảy là tính tổng hợp. Khi tiến hành một chuyến du lịch, khách du lich sẽ sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm du lịch do nhà cung ứng cung cấp. Cùng với đó, một sản phẩm du lịch cũng được hình thành bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố, liên quan đến nhiều ngành nghề, bộ phận. Thứ tám, tính dé bị thay đối, dao động.
Khi tiến hành đưa một sản phẩm du lịch vào phục vụ khách hàng, thái độ tiếp nhận và mức độ hài lòng của du khách là điều vô cùng quan trọng. Nó là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của nhà cung ứng. Bên cạnh đó, nhu cầu của khách du lịch luôn luôn vận động và thay đổi hướng tới sự tìm tòi, khám phá những cái mới, ít khi trung thành với một sản phẩm du lịch duy nhất. Một sản pham du lịch nếu không còn sức hấp dẫn đối với du khách sẽ bị thay thé bởi một sản phẩm mới phù hợp hơn.
Chính vì vậy, việc điều tra thị trường để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với tài nguyên, có sức hút với khách du lịch là công việc cần thiết mà mỗi nhà cung ứng phải thực hiện. Sản phẩm du lịch đặc trưng Đối với hoạt động du lịch, việc ghi lại dấu ấn của điểm đến là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cần thiết. Những dấu ấn này sẽ giúp phân biệt giữa điểm du lịch này với điểm du lịch khác đồng thời góp phần xây dựng chiến lược để phát huy những tiềm năng, thế mạnh của từng điểm du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu rõ phương hướng xây dựng dấu ấn du lịch riêng của từng địa phương như sau: “Tập trung xây dựng hệ thống sản phẩm, loại hình du lịch đặc trưng và 18 chất lượng cao trên cơ sở phát huy giá trị tài nguyên du lịch độc đáo, đặc sắc, có thé mạnh nồi trội".
Khai niệm Có nhiều định nghĩa về sản phẩm du lịch đặc trưng.