Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu kinh tế hiện đại của Việt Nam, nhóm ngành Dịch vụ - Du lịch đang có sự chuyển dịch tăng trưởng nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động và trải nghiệm văn hóa của người dân trước áp lực đô thị hóa. Tỉnh Quảng Ninh xác định phát triển du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn theo Quyết định phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" (ban hành ngày 04/07/2014), trong đó phân định không gian phát triển du lịch biên giới gồm Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Bình Liêu, Tiên Yên và Ba Chẽ.
Bình Liêu là một huyện miền núi biên giới phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long 108 km và cách Hà Nội 270 km. Địa bàn sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên hoang sơ, khí hậu đặc thù tương đồng với Sa Pa, cùng nền văn hóa bản địa đa dạng của đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Sán Chỉ, Kinh, Hoa. Dù du lịch phượt và du lịch sinh thái tự phát bắt đầu hình thành rõ nét trong giai đoạn 2014–2018 nhờ sự phát triển của truyền thông và Internet, hoạt động du lịch tại Bình Liêu vẫn mang tính manh mún, chưa định hình được thương hiệu sản phẩm đặc trưng tương xứng với tiềm năng.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá toàn diện tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn tại huyện Bình Liêu nhằm khẳng định tiềm năng xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù.
- Đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng các sản phẩm du lịch tại địa phương; chỉ ra các điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển sản phẩm du lịch ở Bình Liêu.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn về sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc trưng.
- Khảo sát thực tế địa bàn nghiên cứu nhằm ghi nhận thông tin khách quan về tuyến, điểm và dịch vụ du lịch.
- Phân tích hiện trạng phát triển sản phẩm du lịch, đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực tại địa phương.
- Đề xuất các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể nhằm xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch Bình Liêu mang tính cạnh tranh và bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Sản phẩm du lịch huyện Bình Liêu, bao gồm tài nguyên du lịch, hệ thống dịch vụ và mức độ đáp ứng nhu cầu du khách.
- Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát tại thị trấn Bình Liêu và các xã có hoạt động du lịch tương đối phát triển như Hoành Mô, Đồng Văn, Húc Động.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu, tư liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014–2018; khảo sát thực địa tiến hành vào tháng 3 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các chuẩn mực học thuật và văn bản pháp quy của ngành du lịch:
- Khái niệm và cấu thành sản phẩm du lịch: Áp dụng định nghĩa từ Luật Du lịch Việt Nam (2017), xác định sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách. Ba yếu tố cấu thành cốt lõi gồm: Tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn theo Luật Du lịch 2005), Dịch vụ du lịch và Sự thỏa mãn của khách du lịch.
- Đặc điểm sản phẩm du lịch: Phân tích 8 đặc tính cơ bản gồm tính phi vật chất, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, sự tương tác giữa nhà cung ứng và khách hàng, tính không chuyển quyền sở hữu, tính cố định không thể di dời, tính thời vụ, tính tổng hợp và tính dễ dao động/thay đổi.
- Sản phẩm du lịch đặc trưng: Nghiên cứu quy trình 3 giai đoạn để kiến tạo sản phẩm đặc thù (Xác định yếu tố độc đáo của tài nguyên $\rightarrow$ Hoàn thiện sản phẩm đặc trưng sẵn có $\rightarrow$ Nghiên cứu tài nguyên chưa khai thác để thiết kế sản phẩm mới).
- Văn bản định hướng và quy hoạch: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Tổng cục Du lịch, 2012); Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (2014); Quyết định số 2666/QĐ-UBND ngày 10/9/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc công nhận 3 tuyến và 8 điểm du lịch trên địa bàn huyện Bình Liêu.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập các công trình nghiên cứu, báo cáo chính sách, số liệu thống kê kinh tế - xã hội của địa phương để xây dựng cơ sở lý luận.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế tài nguyên tự nhiên (núi, thác, cột mốc biên giới) và tài nguyên nhân văn (lễ hội, bản làng, kiến trúc, sinh hoạt văn hóa) tại Hoành Mô, Đồng Văn, Lục Hồn, Húc Động và thị trấn Bình Liêu vào tháng 3/2018.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Phân tích dữ liệu về lượng khách, cơ cấu dân cư, tài nguyên rừng, hiện trạng cơ sở lưu trú và dịch vụ phục vụ du lịch.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm về sản phẩm du lịch, các điều kiện phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng (tài nguyên độc thù, nhân lực địa phương, dịch vụ phụ trợ, phản hồi thị trường) và vai trò tạo dựng lợi thế cạnh tranh điểm đến.
Tác giả tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển du lịch trong nước và quốc tế:
- Kinh nghiệm quốc tế: Thái Lan (chiến lược marketing số và phát triển dòng sản phẩm bản sắc "Thainess"); Indonesia (bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc và tôn giáo gắn với khai thác tài nguyên sinh thái).
- Kinh nghiệm trong nước: Đà Nẵng (xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện và phát triển dịch vụ du lịch MICE chuyên nghiệp); Hà Giang (quy hoạch làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn nếp sống thuần nhất của đồng bào dân tộc thiểu số).
- Kinh nghiệm nội tỉnh Quảng Ninh: Hạ Long (liên tục đổi mới sản phẩm, phát triển tổ hợp vui chơi, nghỉ dưỡng cao cấp); Cô Tô (hoàn thiện hạ tầng giao thông tàu cao tốc và đưa điện lưới 110kV ra đảo từ năm 2013).
Từ các trường hợp điển hình, tác giả rút ra 5 bài học ứng dụng trực tiếp cho Bình Liêu: Chú trọng bảo tồn giá trị truyền thống; Sáng tạo sản phẩm mới; Đào tạo nguồn nhân lực bản địa; Đầu tư hạ tầng kết nối; Đẩy mạnh quảng bá định vị thương hiệu riêng.
Chương 2: Hiện trạng xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch ở Bình Liêu
Chương 2 phân tích chuyên sâu các dữ liệu thực địa và thống kê về địa bàn huyện Bình Liêu:
- Điều kiện tự nhiên: Diện tích 475,1 km², cấu trúc 3 tiểu vùng địa hình (tiểu vùng Tây Bắc độ dốc 30–35°, núi cao 800–1000 m; tiểu vùng Đông Nam có các đỉnh cao trên 1000 m như Cao Xiêm 1429 m, Cao Ba Lanh 1113 m, Nam Châu Lãnh 1508 m; tiểu vùng ven sông Tiên Yên cao 300–400 m). Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình 18–28°C, lượng mưa 2000–2400 mm/năm. Đất lâm nghiệp chiếm 34.683,11 ha (rừng phòng hộ chiếm 41,88%). Hệ thực vật ghi nhận 1020 loài thuộc 6 ngành, 171 họ (ngành Mộc lan chiếm 951 loài); hệ động vật có hơn 120 loài (11 loài lưỡng cư, 5 loài bò sát, 67 loài chim, 34 loài thú).
- Điều kiện kinh tế - xã hội: 8 đơn vị hành chính (7 xã, 1 thị trấn; có 6 xã biên giới, 5 xã đặc biệt khó khăn). Dân số khoảng 30.000 người (năm 2015), mật độ 56 người/km². Cơ cấu dân tộc gồm: Tày (58,4%), Dao (25,6%), Sán Chỉ (15,4%), Kinh (3,7%), Hoa (0,3%). Nền kinh tế dựa vào lâm nghiệp (quế, hồi, trẩu, sở, keo, thông), nông nghiệp ruộng bậc thang, làng nghề miến dong và kinh tế cửa khẩu Hoành Mô.
- Hệ thống tài nguyên du lịch độc đáo:
- Tài nguyên tự nhiên: Thác Khe Vằn (xã Húc Động, cao 100 m, 3 tầng, xếp hạng Di tích danh thắng cấp Tỉnh ngày 29/1/2011), Thác Khe Tiền (3 cụm thác tại xã Đồng Văn), Thác Sông Moóc (bãi đá hơn 4000 m²); Đỉnh Cao Xiêm (1429 m, "nóc nhà" Quảng Ninh với bức tường đá cổ và dấu tích chiến tranh biên giới 1979), Núi Cao Ba Lanh (1050 m, hiện tượng âm thanh cộng hưởng tại Bãi đá thần), Núi Cao Ly (>1000 m, điểm săn mây), Núi Kéo Lạn (1200 m, địa hình khối đá độc đáo); Đường tuần tra biên giới dài hơn 43 km với điểm nhấn "Sống lưng khủng long" dẫn lên cột mốc 1305; Cảnh quan mùa hoa sở (tháng 12 – tháng 1), hoa trẩu (tháng 4), hoa dong riềng (tháng 7), hoa mua (tháng 8–9), đồi cỏ lau (tháng 10–11) và ruộng bậc thang mùa lúa chín tháng 10.
- Tài nguyên nhân văn: Đình Lục Nà (thờ Thành hoàng Hoàng Cần, lễ hội ngày 16–17 tháng Giêng, Di tích lịch sử cấp Tỉnh năm 2005), Cây đa Lục Hồn (nơi thành lập chính quyền kháng chiến ngày 20/11/1945), Cửa khẩu Hoành Mô; Dân ca Hát Then – Đàn Tính (người Tày), Hát Soóng Cọ (người Sán Chỉ, thể thơ tứ tuyệt); Lễ hội Soóng Cọ (15–16/3 âm lịch), Ngày Kiêng gió (4/4 âm lịch của người Dao Thanh Phán), Lễ hội Lồng Tông, Tết Cơm mới; Kiến trúc nhà đất, nhà sàn, nhà phòng thủ; Trang phục thủ công thổ cẩm truyền thống; Ẩm thực bản địa (xôi ngũ sắc, miến dong, bánh tài lồng, bánh coóc mò, cá suối, gà bản).
- Định hướng 8 nhóm sản phẩm du lịch:
- Cung đường biên giới: Tham quan mốc chủ quyền, cửa khẩu Hoành Mô, trekking đường biên.
- Du lịch sinh thái cộng đồng: Khám phá bản làng, lễ hội, sinh hoạt của người Tày, Dao, Sán Chỉ.
- Nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe: Cắm trại, dã ngoại sinh thái, tắm lá thuốc thảo dược người Dao.
- Thể thao mạo hiểm: Chinh phục đỉnh Cao Xiêm, Cao Ba Lanh, mốc 1305, dù lượn, xe địa hình, tắm thác.
- Sắc màu Bình Liêu: Trải nghiệm mùa hoa sở, hoa trẩu, mùa vàng ruộng bậc thang, mùa cỏ lau.
- Ẩm thực địa phương: Thưởng thức và chế biến món ăn truyền thống vùng cao.
- Hàng hóa truyền thống: Khai thác sản phẩm OCOP, tinh dầu sở, quế, hồi, miến dong, thổ cẩm.
- Du lịch thiện nguyện: Kết hợp du lịch trải nghiệm với hỗ trợ y tế, giáo dục tại các bản khó khăn.
- Hiện trạng cơ sở vật chất và tổ chức du lịch: Khai thác 3 tuyến 8 điểm theo Quyết định 2666/QĐ-UBND. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở lưu trú chủ yếu là homestay tự phát quy mô nhỏ, nguồn nhân lực du lịch chuyên môn cao hầu như chưa có, việc quảng bá xúc tiến còn sơ khai, vấn đề bảo vệ môi trường và thu gom rác thải du lịch bắt đầu phát sinh bất cập.
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch ở Bình Liêu (Quảng Ninh)
Chương 3 tổng kết các mặt đạt được cùng hạn chế tồn tại, từ đó đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp thực thi:
- Giải pháp khai thác và bảo tồn tài nguyên du lịch: Quy hoạch ranh giới bảo tồn cảnh quan tự nhiên (thác nước, rừng nguyên sinh); phục dựng và số hóa các giá trị di sản phi vật thể (hát Then, hát Soóng Cọ, lễ hội truyền thống).
- Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng và đa dạng dịch vụ du lịch: Đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông kết nối các tuyến điểm; chuẩn hóa các mô hình homestay cộng đồng; xây dựng trạm dừng chân và dịch vụ phụ trợ.
- Giải pháp đào tạo đội ngũ quản lý và phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch, giao tiếp và chế biến ẩm thực cho người dân bản địa (Tày, Dao, Sán Chỉ); nâng cao năng lực cho cán bộ văn hóa - du lịch huyện.
- Giải pháp quảng bá hoạt động du lịch: Đẩy mạnh ứng dụng cổng thông tin điện tử, mạng xã hội; tổ chức định kỳ Lễ hội Hoa Sở, Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc; liên kết xúc tiến với các trung tâm du lịch lớn như Hạ Long, Hà Nội.
- Giải pháp phát triển thị trường khách du lịch: Phân khúc thị trường mục tiêu (nhóm khách trẻ ưa khám phá mạo hiểm, nhóm khách gia đình trải nghiệm văn hóa sinh thái); mở rộng thị trường khách nội địa phía Bắc và khách quốc tế.
- Giải pháp thu hút vốn đầu tư cho du lịch: Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, tạo cơ chế thu hút doanh nghiệp lữ hành đầu tư vào dịch vụ lưu trú, giải trí đạt chuẩn.
- Giải pháp bảo vệ môi trường: Lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn, thùng rác tại các cung đường trekking, thác nước; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho du khách và cộng đồng địa phương.
- Giải pháp đảm bảo an ninh - quốc phòng: Phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ đội Biên phòng trong việc quản lý hoạt động tham quan tuyến biên giới, kiểm soát cột mốc và giữ vững an ninh trật tự vùng biên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và chuẩn hóa hệ thống dữ liệu toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của huyện Bình Liêu, đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn cho định hướng phát triển sản phẩm du lịch địa phương.
| Tiêu chí phân tích |
Dữ liệu thực tế tại huyện Bình Liêu (2018) |
| Vị trí & Quy mô |
Diện tích 475,1 km²; 8 đơn vị hành chính (7 xã, 1 thị trấn; 6 xã biên giới, 5 xã ĐBKK); Dân số ~30.000 người. |
| Cơ cấu dân tộc |
Người Tày (58,4%), Dao (25,6%), Sán Chỉ (15,4%), Kinh (3,7%), Hoa (0,3%). |
| Tài nguyên tự nhiên nổi bật |
Núi Cao Xiêm (1429 m), Núi Cao Ba Lanh (1050 m), Núi Cao Ly (>1000 m), Thác Khe Vằn (cao 100 m, 3 tầng), Đường biên giới 43 km và Cột mốc 1305. |
| Tài nguyên nhân văn tiêu biểu |
Đình Lục Nà, Cây đa Lục Hồn, Cửa khẩu Hoành Mô; Hát Then, Soóng Cọ; Lễ hội Lồng Tông, Ngày Kiêng gió (4/4 âm lịch), Tết Cơm mới. |
| Tuyến điểm quy hoạch |
3 tuyến và 8 điểm du lịch chính thức theo Quyết định 2666/QĐ-UBND (2015). |
| Hệ thống sản phẩm định hướng |
8 nhóm sản phẩm: Cung đường biên giới, Sinh thái cộng đồng, Nghỉ dưỡng - sức khỏe, Thể thao mạo hiểm, Sắc màu Bình Liêu, Ẩm thực địa phương, Hàng hóa truyền thống, Thiện nguyện. |
Đóng góp của khóa luận:
- Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở cấp độ khóa luận đại học tiếp cận Bình Liêu dưới góc độ lý luận và thực tiễn phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, khắc phục khoảng trống của các đề tài trước đó (vốn chỉ nghiên cứu văn hóa tộc người thuần túy hoặc quản lý đất đai địa phương).
- Đề xuất được mô hình 8 nhóm sản phẩm du lịch đặc thù có tính ứng dụng thực tế, phù hợp với năng lực quản lý và điều kiện tài nguyên bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và kinh phí, hoạt động khảo sát thực địa chỉ tập trung vào một số địa bàn trọng điểm (Hoành Mô, Đồng Văn, Húc Động, thị trấn Bình Liêu), chưa bao quát toàn diện mạng lưới thôn bản vùng sâu thuộc 7 xã của huyện. Dữ liệu khảo sát du khách chỉ ghi nhận tập trung vào đợt thực địa tháng 3 năm 2018 nên chưa phản ánh trọn vẹn sự biến động nhu cầu qua mùa du lịch cao điểm thu đông (mùa cỏ lau và hoa sở).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra xã hội học định lượng với mẫu khảo sát lớn hơn đối với du khách và cộng đồng bản địa; nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị và khả năng liên kết tour tuyến liên vùng (Bình Liêu – Tiên Yên – Móng Cái – Hạ Long).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên, giảng viên chuyên ngành Việt Nam học, Du lịch học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế; cán bộ hoạch định chính sách du lịch thuộc Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Bình Liêu và Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh; các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tour tuyến Đông Bắc.
- Nội dung giá trị nhất: Hệ thống hóa chi tiết danh mục tài nguyên du lịch tự nhiên - nhân văn (Chương 2) và khung phân loại 8 nhóm sản phẩm du lịch kèm hệ thống giải pháp liên ngành (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu thành phần dân tộc tại Bình Liêu theo khóa luận có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu thống kê năm 2015 trong khóa luận, Bình Liêu có dân số khoảng 30.000 người với 5 dân tộc chính sinh sống: người Tày chiếm đa số (58,4%), tiếp đến là người Dao (25,6%), người Sán Chỉ (15,4%), người Kinh (3,7%) và người Hoa (0,3%). Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 95% tổng dân số tạo nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú.
2. Hệ thống tuyến, điểm du lịch tại Bình Liêu được công nhận dựa trên văn bản pháp lý nào?
Hoạt động khai thác tuyến, điểm du lịch tại huyện Bình Liêu được triển khai chính thức theo Quyết định số 2666/QĐ-UBND ngày 10/9/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, công nhận 3 tuyến và 8 điểm du lịch nội vùng.
3. Đỉnh núi cao nhất tỉnh Quảng Ninh nằm trên địa bàn Bình Liêu có tên là gì và có tiềm năng du lịch ra sao?
Núi Cao Xiêm với độ cao 1429 m so với mực nước biển được coi là "nóc nhà" của tỉnh Quảng Ninh. Nơi đây có tiềm năng lớn cho du lịch khám phá, trekking dã ngoại với cung đường đi bộ khoảng 15 km xuyên qua rừng thông, thảm cỏ, bức tường thành bằng đá cổ và hệ thống hầm hào từ thời chiến tranh biên giới năm 1979.
4. "Ngày Kiêng gió" tại Bình Liêu là nét sinh hoạt văn hóa của dân tộc nào và diễn ra vào thời gian nào?
Ngày Kiêng gió là ngày hội truyền thống độc đáo của đồng bào dân tộc Dao Thanh Phán tại xã Đồng Văn, được tổ chức vào ngày 4 tháng 4 âm lịch hàng năm. Vào ngày này, người dân tạm gác việc nương rẫy để xuống chợ gặp gỡ, giao lưu, hò hẹn và hát đối đáp Sán Cố, mang tính chất tương tự một phiên chợ tình vùng cao.
5. Tác giả đề xuất bao nhiêu nhóm sản phẩm du lịch đặc trưng cho huyện Bình Liêu?
Khóa luận định hướng xây dựng 8 nhóm sản phẩm du lịch đặc thù: (1) Cung đường biên giới; (2) Du lịch sinh thái cộng đồng; (3) Nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; (4) Thể thao mạo hiểm; (5) Sắc màu Bình Liêu; (6) Ẩm thực địa phương; (7) Hàng hóa truyền thống; (8) Du lịch thiện nguyện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Khảo sát hiện trạng xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch ở Bình Liêu (Quảng Ninh)" của tác giả Đặng Thị Dung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch đặc trưng và phân tích toàn diện tiềm năng địa phương. Công trình cung cấp bức tranh thực trạng về tài nguyên tự nhiên, di sản văn hóa tộc người cùng các điểm nghẽn về hạ tầng và nhân lực tại huyện Bình Liêu giai đoạn 2014–2018. Hệ thống 8 nhóm sản phẩm du lịch định hướng và 8 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quy hoạch phát triển du lịch vùng biên giới Đông Bắc.