Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch tín ngưỡng, tôn giáo + Chương 2: Thực trạng và khả năng khai thác du lịch tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Bạc Liêu + Chương 3: Khuyến nghị giải pháp phát triển du lịch tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Bạc Liêu 11 CHUONG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE DU LICH TÍN NGUONG, TON GIÁO 1. Một số vấn dé lý luận về tín ngưỡng, tôn giáo 111. Tín ngưỡng, tôn giáo 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng là một khái niệm có khá nhiều luồng ý kiến và vẫn luôn là đề tài tranh luận của nhiều học giả dưới các góc nhìn khác nhau: triết học, tôn giáo học, nhân học, văn hóa dân gian.cu thể: - Chủ nghĩa Mac- Lénin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
- Một số nhà thần học xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thé cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc và sự bình yên. Theo GS Đặng Nghiệm Vạn thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa. Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người nước ngoài có thé hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, lelieve, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance riligieuse). Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phan ở ngoài tôn giáo, nêu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believer theo nghĩa hep croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chi là một bộ phận chủ yếu nhất cầu thành của tôn giáo.
Các học giả như Toan Ánh, Phan Kế Bính.xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam, trong khi đó học giả Nguyễn Chính cho rằng tín ngưỡng là niềm tin, sự trông cậy và yêu quý một thé lực siêu nhiên mà với tri thức con người và kinh nghiệm chưa đủ dé giải thích và lý giải được. Trần Quốc Vượng “Noi đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gởi gam vào niềm tin tưởng của con người. Quá trình ấy có thể là quá trình huyén thoại hóa, lịch sử nhân vật phụng thờ. Mặt khác, giữa các tin ngưỡng déu có những dan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng”.
12 Như vậy, có hai luồng ý kiến: thứ nhất xem tín ngưỡng là một phần của tôn giáo; thứ hai cho rằng tín ngưỡng độc lập với tôn giáo. Tuy nhiên đối với bài nghiên cứu này không bàn đến vấn đề này chỉ đơn giản chấp nhận tín ngưỡng như là niềm tin của người dân vào các tín ngưỡng dân gian có từ lâu nhưng vẫn có giá trị trong đời sống sinh hoạt tin thần của người dân biểu hiện qua nhiều mặt trong Cuộc sông. Tôn giáo Tôn giáo là khái niệm chỉ niém tin, sự kính ngưỡng của con người vào thé giới siêu nhiên, hay chỉ môi ràng buộc, liên hệ giữa con người vào thé giới hư ảo, giữa tran thé với thế giới than linh [14. Tôn giáo là một tập thé bao gồm những tín lý và cách thức hành đạo thường gắn liền với quyên lực siêu nhiên hình thành hoặc chỉ phối sự sinh tử của con người.
Theo một tôn giáo (hay theo đạo) hàm nghĩa là tin vào một lực thần thánh và tuân thủ những chủ dẫn đạo đức mà tôn giáo đó đưa ra cho tín hữu. Tôn giáo noi kết con người trở thành những cộng đồng có chung mục đích và giá trị. Có nhiều tôn giáo trên thé giới. Một số tôn giáo chỉ hạn hẹp tại những miền địa lý riêng biệt.
Chỉ có 5 tôn giáo lan rộng khắp thé giới và có hàng triệu tín do An Giáo, Phật Giáo, Do Thai Giáo, Thiên Chua Giáo và Hồi Giáo [19, tr. Ngày nay, khái niệm tôn giáo được được giải thích trong những từ điển tiếng Việt phổ thông, trở thành khái niệm quen thuộc trong nhận thức của mọi người. + Từ điển Tiếng Việt: “7ồn giáo là sự công nhận một sức mạnh coi là thiêng liêng quy định một hệ thống ý nghĩ và tư tưởng của con người về số phận của mình trong và sau cuộc đời hiện tại, do đó quyết định phan nao hé thong dao đúc, dong thoi thé hiện bang những tập quán, lễ nghỉ tỏ thái độ tin tưởng và tôn sung sức mạnh đó” + Một cuốn từ điển khác: “Một hình thái ý thức xã hội gdm những qua niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ” 13 “Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay những vị thân linh nào đó và những hình thức lễ nghỉ thể hiện sự sùng bai đó ” Theo Nguyễn Pham Hùng: “7w chung tôn giáo cần được hiểu là dao (religion xuất phát từ tiếng Latinh religio) có nghĩa tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính than linh” hay “bồn phận, sự gắn kết giữa con người với thân linh Khái niệm tôn giáo can được hiểu theo hai nghĩa: + Thứ nhất là tư tưởng tôn giáo, triết học của con người trong nhận thức và giải thích thé giới. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thé giới thành hai phan than thiêng và thé tục.
Thé tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người còn thân thiêng là cái siêu nhiên thần thánh ton tại bên ngoài và bên trong con người. Đứng trước sự than thiêng con người luôn bị khuất phục và tuân phục vì thé đẻ ra nghỉ lễ và sự sùng bái. Tôn giáo là kết quả của sự giải thích thân thiêng hư ảo về thé giới. Chính vì thé mà tư tưởng tôn giáo thường mang tinh triết học + Thứ hai, tôn giáo là những tổ chức xã hội — tổ chức tôn giáo, những tổ chức gom nhiễu cá nhân tôn sing, ủng hộ, thờ phụng một vị thân thánh sáng chế, một tư tưởng tôn giáo triết học cụ thể, những tổ chức tôn giáo đó thường có tư cách pháp nhân.
Tóm lại, tùy theo mục đích nghiên cứu của mỗi tác giả sẽ đưa ra những nhận định về tôn giáo riêng phù hợp với van đề nghiên cứu. Tuy nhiên dé hiểu ra một khái niệm cần xét trong từng trường hợp cụ thể trên nhiều phương diện để có cái nhìn bao quát. Vì vậy bài nghiên cứu dựa trên quan điểm của Nguyễn Pham Hùng, tôn giáo là tư tưởng tôn giáo triết học của con người trong nhận thức và giải thích thé giới; tôn giáo là những tổ chức xã hội - tổ chức tôn giáo. Phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo Theo GS.
Trần Quốc Vượng: Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại. Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin và cơ cấu của hai hiện tượng xã hội. Theo Nguyễn Phạm Hùng: “ Tôn giáo và tin ngưỡng có nhiều điểm giống nhau và khác nhau. 14 + Sự giống nhau rõ nhất là bản chất hữu thân luận trong giải thích thế giới, là sự nhận thức hư ảo về hiện thực, là sự sung bai những lực lượng siêu tự nhiên.
Hai khái niệm có nhiều điểm giống nhau, bởi vì chúng đều là sản phẩm của tư tưởng duy tâm, thân bí, tư tưởng hữu thân, đều là sự giải thích hư ảo của con người về thế giới hiện thực. Hiện nay, nhiều người xem tôn giáo và tín ngưỡng là hai hình thái tư tưởng xã hội cùng song song ton tại. + Khác nhau giữa tôn giáo và tin ngưỡng có những sự khác biệt nhất định về phạm vi, mức độ, trình độ, và cả it nhiều ở nội dung cơ bản cơ bản cua chung”. 172] “Chúng có những điểm chung giống nhau và những điểm riêng khác nhau về hình thức, về tư tưởng, về trình độ.Tôn giáo và tin ngưỡng không phải là một .Trong tiếng Pháp cũng có hai từ ré ligion là tôn giáo và croyance là tin ngưỡng, đức tin, niềm tin.
Tôn giáo là một học thuyết về sáng thé và cứu thé theo một vũ trụ quan và nhân sinh quan nào đó. Tôn giáo được hợp thành bởi bốn yếu tố: giáo chủ, giáo lý, giáo hội và giáo đường. Tôn giáo có thé truyền bá, mở rộng ton tại ở nhiều cộng dong. Tín ngưỡng là một nội dung, tính chất thân linh được ra doi, tin theo một cộng đồng từ thời xa xưa trong lịch sử của họ và được tiếp tục duy trì trong cộng dong người ấy, đông thời cũng có thể ảnh hưởng đến các cộng dong người khác.
Tin ngưỡng và tôn giáo không phải là một. Tín ngưỡng và tôn giáo có mục dich khác nhau ” [9, tr. 169] Dù cách giải thích có khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung, thống nhất cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng đều là tư tưởng hữu thần, đều là sản phẩm của chủ nghĩa duy tâm đều là sự giải thích hư ảo về thé giới hiện thực. Tín ngưỡng là lòng tin, là niềm tin mà con người ta ngưỡng vọng vào một vị thần hay một tín điều siêu hình nào đó.
Ví dụ như tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thần, thờ cúng tô tiên. Tín ngưỡng có ở bat ky cong đồng nào, ton tại trong nội bộ một cộng đồng. Tín ngưỡng không có tính hệ thống không tổ chức chặt chẽ, không có tính thường xuyên, không có lý thuyết. 15 Tôn giáo trái lại là một (hay nhiều) hệ thống giáo lý, có tổ chức có tính bền vững, thường xuyên.
Dé phân biệt tôn giáo tín ngưỡng người ta thường người ta thường dựa vào những yếu tố tôn giáo có nhưng tín ngưỡng không có: giáo chủ, giáo lý, giáo triều, giáo dân, giáo phận. Theo Nguyễn Đăng Duy: Có người xem tôn giáo và tín ngưỡng là hai hình thức khác nhau của tôn giáo trong hai giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau. Tín ngưỡng là giai đoạn cấp thấp, tôn giáo là giai đoạn cao. Sau này, chúng tách khỏi nhau và cùng song song tôn tại, tác động qua lại với nhau, nhưng khác nhau về trình độ, tinh chất, mục đích.
“7rước khi có tôn giáo, loài người có cúng bái, tín ngưỡng gì? Có vô số hình thức cúng bái, tế lễ, mà chúng ta gọi chung là các tín ngưỡng tảo kỳ. Các tín ngưỡng tảo kỳ ( nhiều người gọi cách khác: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo vật linh, da than giáo, ngẫu tượng giáo, hoặc tôn giáo bộ lạc.) bao gém vô số hình thức: bái vật giáo, vật tổ, tô tem, hién tế, cầu đảo, ma thuật, yếm bùa, thờ than bản mệnh. Những tín ngưỡng này déu dé lại những dấu vết trong các tôn giáo sau nay” [7, tr.