Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về các yếu tô ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách đối với du lịch văn hoá. Phương pháp nghiên cứu của đề tài. Kết quả nghiên cứu về các yêu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách đối với du lịch văn hoá tỉnh Thái Bình.
Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách đối với du lịch văn hoá tỉnh Thái Bình. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC YEU TO ANH HUONG DEN SỰ HAI LONG CUA DU KHÁCH DOI VỚI DU LICH VAN HOA 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Zahir Osman và Sentosa, I.
(2013), mục đích khi nghiên cứu về tác động trung gian của sự hài lòng khách hàng đến chất lượng dịch vụ là tìm ra tác động của sự hài lòng khách hàng đối với chất lượng dịch vụ và lòng trung thành của du khách đối với du lịch nông thôn ở Malaysia. Với 295 mẫu được khảo sát kết quả cho thay mối quan hệ của chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng sẽ tác động thuận chiêu với lợi nhuận của ngành du lịch. Juan Carlos Castro và cộng sự (2017), khi nghiên cứu các tác động của marketing đến sự hài lòng của khách du lịch nhăm mục đích xác nhận các yếu t6 tác động đến sự hài lòng của du khách tại các tỉnh Chimborazo, Cotopaxi, Pastaza, Tungurahua ở Ecuador. Với 610 du khách ngẫu nhiên nghiên cứu đưa ra 5 nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách là dịch vụ tại điểm đến; giá cả sản phẩm du lịch; dịch vụ hậu cân; xúc tiên du lịch tại điêm đên; cơ sở hạ tâng.
Mu Zhang, Qing Chen, Wenyu Li (2019), khi nghiên cứu về các yếu tố và cơ chế ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch tại các thị trần đặc trưng của Trung Quốc đã sử dụng mô hình SEM (Structural Equation Modeling) để xây dựng mô hình cấu trúc liên quan đến ý định quay lại của khách du lịch. Kết quả cho thấy sự hài lòng có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định quay lại của du khách; còn về động cơ du lịch và giá trị cảm nhận của du khách thì ảnh hưởng gián tiếp đến ý định quay lại của họ. Tổng quan nghiên cứu trong nước Vũ Thị Phương Nhung (2014), khi nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Hà Nam đã hệ thống hoá các khái niệm và cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hoá. Nghiên cứu đánh giá thực trạng du lịch văn hoá của Hà Nam dé từ đó đưa ra những giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hoá.
Đề phát triển thị trường khách du lịch văn hoá, tác giả ưu tiên phân chia nhóm du khách để tập trung khai thác. Đối với cơ 18 sở hạ tang cần chú trọng về việc huy động vốn dau tư cùng với đó là xây dựng và quảng bá sản phẩm du lịch văn hoá. Cần quan tâm đến những giải pháp bảo tồn di sản văn hoá và tài nguyên du lịch văn hoá dé đảm bảo phát triển du lịch bền vững. Phan Thị Dang (2015), khi khảo sát về mức độ hài lòng của du khách nội địa tại một số điểm du lịch sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long đã xây dựng nên mô hình nghiên cứu về mức độ hài lòng bao gồm 9 nhân tố, đó là: cơ sở hạ tầng; CƠ SỞ lưu trú; dịch vụ ăn uống, mua sắm và giải trí; an ninh trật tự, an toàn; hướng dẫn viên du lịch sinh thái; giá cả các loại dịch vụ; phương tiện vận chuyền tham quan; công tác giáo dục môi trường và bảo tồn cảnh quan; lợi ích du lịch sinh thái mang lại cho cộng đồng địa phương.
Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đây sự phát triển của du lịch sinh thái tại Đồng bằng sông Cửu Long. Hoàng Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Mạnh (2015), khi tìm kiếm các tác động đến lòng trung thành của du khách quốc tế về hình ảnh điểm đến Hà Nội đã đưa ra những kiến nghị để phát triển du lịch Hà Nội một cách có hiệu quả đồng thời bảo tồn các kỳ quan thiên nhiên và khuyến khích khách du lịch quay lại Hà Nội một lần nữa. Đề làm được điều này, thứ nhất phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các công ty du lịch và địa phương nhằm cung cấp các dịch vụ, sản phâm tốt nhất cho khách hàng. Cùng với đó là cải thiện tình ô nhiễm không khí, lừa đảo, trộm cắp, vấn đề an toàn thực phẩm, nhà vệ sinh công cộng, phương tiện di chuyên của khách du lịch, các chương trình hấp dẫn.
Thứ hai, Hà Nội cần chú trọng đến việc marketing, quảng bá thương hiệu qua các kênh truyền thông, hội chợ du lịch quốc tế. Cuối cùng là thái độ phục vụ cần được cải thiện do vẫn còn tệ nạn chèo kéo khách, nâng giá hay lừa đảo du khách. Hoàng Trọng Tuân (2015), khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng mô hình đánh giá hoạt động du lịch tại các điểm du lịch dựa trên sự hài lòng của du khách. Mô hình đánh giá có sự kế thừa từ mô hình SERVQUAL.
Mô hình dựa trên 8 nhân tố với 15 bién quan sát, bao gồm: khả năng tiếp cận; sự sẵn sàng phục vụ; nội dung tham 19 quan; cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; nguồn nhân lực tại điểm; sức chứa khách; tính an toàn; lòng mên khách. Hoàng Thị Thu Hương (2016), khi đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến của người dân Hà Nội tại Huế, Đà Nẵng đã dùng phương pháp định tính phỏng van sâu và định lượng phân tích mô hình cau trúc SEM. Kết quả nghiên cứu chỉ ra răng khi đề cập đến Đà Nẵng, người dân Hà Nội rất coi trọng cơ sở hạ tầng, điều kiện về môi trường, tính an toàn của điểm đến và sự thân thiện của cư dân địa phương, sự săn có của các dịch vụ. Hướng Vũ Liên (2018), khi nghiên cứu việc phát triển du lịch văn hoá ở Mộc Châu đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch văn hoá ở Mộc Châu dựa trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hoá ở nơi đây.
Một số giải pháp tác giả đưa ra là xây dựng sản phẩm đặc trưng và hình ảnh của điểm đến; hoàn thiện và nâng cấp hệ thống giao thông, kết câu hạ tang; xay dung hé thong co sở vật chat kỹ thuật cho hoạt động du lịch; định hướng đảo tạo nhân lực và giáo dục cộng đồng: xúc tiến, quảng bá và quản lý nhà nước cho hoạt động du lịch; định hướng không gian phát triển du lịch và kêu gọi đầu tư phát triển dự án. Hà Nam Khánh Giao và cộng sự (2020), khi nghiên cứu các tác động tương quan của các yếu tố chất lượng dịch vụ du lịch đến sự hài lòng của du khách đã từng đến Thành phố Bảo Lộc. Nghiên cứu sử dụng thang đo SERVQUAL và kết quả cho thay, sự hài lòng của du khách từng tham quan Thành phé Bảo Lộc chịu sự tác động của 3 nhân tố: mức độ đáp ứng, độ tin cậy và đồng cảm được xếp theo thứ tự giảm dân. Phan Việt Đua, Nguyễn Trọng Nhân, Phạm Thị Kiều Trân, Phạm Trần Thuỳ Linh (2022), khi đánh giá sự hài lòng của khách du lịch đối với du lịch nông thôn tỉnh Bạc Liêu đã đưa ra 8 nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách du lịch đó là: tải nguyên du lịch nông thôn; cơ sở hạ tầng: cơ sở vật chất kỹ thuật; nhân lực du lịch; an ninh trật tự, an toàn; vệ sinh môi trường; chính sách phát triển du lịch; giá cả các dịch 20 vụ.
Trong đó, mức hấp dẫn của tài nguyên du lịch nông thôn có tương quan đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách du lịch. Khoảng trống nghiên cứu Từ các bài nghiên cứu được đề cập ở trên, ta thấy rằng việc đánh giá mức độ hài lòng của du khách rất được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu. Các bài nghiên cứu đều đã đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đưa ra mô hình nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, từ đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cho các ban ngành địa phương, địa bàn nơi các tác giả nghiên cứu nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng, phát triển ngành du lịch tại địa phương. Những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để tham khảo và là tiền đề xây dựng mô hình nghiên cứu cho các bài sau.
Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trong nước vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đó là phương pháp khảo sát lay số liệu ở một số bài nghiên cứu chưa đem lại kết quả khách quan nhất do số lượng người tham gia khảo sát còn nhỏ và không bao quát được phần lớn dân số tại khu vực phạm vi nghiên cứu. Cùng với việc tuỳ vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu mà các bài nghiên cứu sẽ đưa ra những yếu tố, giải pháp khác nhau; không thể áp dụng vào địa phương khác. Hơn thế nữa, trong quá trình tìm hiểu về các bài viết liên quan đến du lịch văn hoá Thái Bình, nhận thấy hầu như chỉ có các bài viết định tính mà còn hạn chế về nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của du khách đối với du lịch văn hoá tỉnh Thái Bình. Do đó, với mong muốn làm phong phú thêm những bài nghiên cứu về du lịch Thái Binh và đưa ra những giải pháp phù hợp dé ngành du lịch Thái Bình nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung ngày càng phát triển hơn.
Khái niệm về du lịch Theo Điều 3, khoản 1 của Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, 21 giải trí, tim hiểu, khám phá tài nguyên du lich hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.