Chương 1, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ghi rõ Di sản văn hóa vật thể là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [9, tr. Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [9, tr. 13 Di tích LS-VH phải có một trong các tiêu chí: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của đại phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ tiêu biểu; Công trình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. Tại Điều 5 của Luật di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quyền sở hữu đối với các di sản văn hóa được xác định theo pháp luật chung là Bộ luật Dân sự, các quy định khác của pháp luật có liên quan và theo luật chuyên ngành là Luật Di sản văn hóa [9, tr.
Nói đến bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH, có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, ta có thể hiểu như sau: bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực hiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH là một bộ phận của chính sách văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH đã được cụ thể hóa ở nhiều loại văn bản như: Văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, Nghị quyết các hội nghị Trung ương Đảng, Hiến pháp, Chiến lược phát triển văn hóa, Luật di sản văn hóa và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật di sản văn hóa. Tổ chức thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa là triển khai thực hiện Luật di sản văn hóa, Hiến pháp, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật và các Nghị định bằng những hoạt động thiết thực 14 hiện bảo tồn và giữ gìn, phát huy giá trị to lớn của các di tích lịch sử - văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nên móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng hướng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đặc điểm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa Việc ban hành và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS- VH cũng cần phải phù hợp với mục tiêu đặt ra là phải gắn di tích với đời sống đương đại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu phát triển, nhất là phát triển du lịch bền vững và tăng cường giao lưu văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế. Di sản văn hóa đã được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người. Di sản văn hóa là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ, việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học v.
Hiện nay, việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích LS-VH dựa trên nhiều quan điểm khác nhau. Bàn về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích LS-VH, trước tiên cần quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng các khóa IX, X, XI, XII, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết đã khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”. Bảo tồn di sản văn hóa phải gắn liền với phát triển bền vững nghĩa là hướng tới sự phát triển lâu dài và liên tục mà không làm ảnh hưởng, tổn hại và suy giảm môi trường thiên nhiên cũng như di sản văn hóa.
Tăng trưởng kinh tế phải song song với việc quan tâm duy trì, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn và xây 15 dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, bảo tồn di sản văn hóa là thúc đẩy mà không cản trở các mục tiêu phát triển. Hơn nữa còn phải tạo ra điều kiện để di sản của quá khứ và hiện tại trở thành nền tảng tinh thần cho phát triển trong tương lai. Các di tích LS-VH phải được bảo tồn đồng bộ theo đúng các nguyên tắc khoa học chuyên ngành: bảo vệ pháp lý và khoa học, bảo vệ về mặt vật chất và kỹ thuật. Các di tích LS- VH phải được sử dụng và phát huy giá trị phục vụ nhu cầu hiện đại do xã hội đề ra.
Nhà nước đã xác định rõ các đối tượng và mục tiêu cần được ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xã hộ cho việc tu bổ, tôn tạo gắn với phát triển du lịch [6, tr. Việc bảo tồn phải luôn gắn với nhu cầu sử dụng và phát huy giá trị của di tích. Các di tích LS-VH được duy trì tu bổ để tham gia trực tiếp vào nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội như: giáo dục truyền thống, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, các hoạt động văn hóa, phát triển du lịch, giao lưu quốc tế, tạo nguồn thu. Có hai quan điểm tương ứng với ba mô hình chung nhất trên thế giới về bảo tồn là: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa.
- Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa. Quan điểm này gần như đã đóng vai trò chủ đạo trong cách thức quản lý. Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại [46].
Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có thể hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại. Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, 16 chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn. - Quan điểm bảo tồn kế thừa Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản.
Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P. Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản. Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản. Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người.
Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa. Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới [33].