Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, thì phần Nội dung chính của Luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: (Cơ sở lý luận và thực tiễn) trình bày khái quát về những khái niệm, quan điểm liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, giá trị, di tích, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, quản lý, quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa, giúp luận văn có tính cơ sở về lý luận để phân tích những nội dung liên quan đến chƣơng 2 và trình bày khái quát về lịch sử hình thành di tích, địa bàn nghiên cứu nhằm cung cấp những thông tin có tính nền tảng liên quan đến thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu tại Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. (Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu) trình bày và phân tích một cách toàn diện công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa Văn Thánh Miếu ở Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp từ cơ cấu tổ chức, nhân sự và các hoạt động quản lý cụ thể có liên quan. Chƣơng 3: (Kiến nghị và đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa di tích Văn Thánh Miếu tại Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích Văn Thánh Miếu và phân tích những nhân tố khác có tác động, liên quan đến công tác quản lý để từ đó đƣa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VĂN THÁNH MIẾU Ở THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP 1.
Khái niệm sơ lược về văn hóa Văn hóa mang nghĩ rất rộng, bao gồm tất cả những gì liên quan đến đời sống con ngƣời từ vật chất đến tinh thần, do con ngƣời nhận định theo cách riêng của mình. Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm nói đến văn hóa cả trong và ngoài nƣớc. Sau đây, xin nêu một vài khái niệm phổ biến, mang tính khoa học, đƣợc sử dụng nhiều trong giới nghiên cứu, nhƣ một tiền đề bất biến mà mỗi khi nói đến văn hóa, ngƣời ta không thể không nhắc đến nhƣ: Khái niệm văn hóa ở Việt Nam, tiêu biểu gồm có: - Khái niệm đƣợc nêu ra từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [112, tr.
Bác cho rằng, văn hóa là những gì do con ngƣời sáng tạo ra, bao gồm cả ngôn ngữ, chữ viết… và ngay cả những công cụ lao động cùng phƣơng thức sử dụng. Khái niệm hàm chứa nội dung rất rộng, văn hóa nhƣ là tất cả đời sống con ngƣời. Theo Cơ sở văn hóa Việt Nam của nhóm tác giả, Trần Quốc Vƣợng (Chủ biên) thì: “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” [112, tr. Văn hóa này có liên quan đến các dạng 9 thức mà trong Chu Dịch, quẻ Bi về xem dáng vẻ con ngƣời, thời Tây Hán đƣợc dùng với ý nghĩa giáo hóa con ngƣời.
18-19] Nhín chung, các khái niệm văn hóa ở Việt Nam đều nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất và thành quả của con ngƣời, những gì con ngƣời tạo ra đều có văn hóa trong đó, nhƣng văn hóa ở đây đƣợc nhìn nhận từ cái đẹp, cái hay, cái quý và thời gian tồn tại của nó là không hạn lƣợng và nó có tính duy trì, kết nối giữa nhiều thế hệ, là sự tinh hoa nhất định của quốc gia và dân tộc. Khái niệm văn hóa ở nước ngoài: Nếu văn hóa trong dạng thức mà trong Chu Dịch, quẻ Bi là xem về dáng vẻ con ngƣời thì ở phƣơng Tây, “văn hóa” đƣợc dịch là đồng nghĩa với từ “Culture” (cách dung của ngƣời Anh, Pháp), “Kultur” (ngƣời Đức) và “Kultura” (ngƣời Nga), những từ này đều có nguồn gốc từ chữ Latinh “Cul- tus”, nghĩa là trồng trọt tinh thần.Taylor đƣa ra định nghĩa “Văn hóa hay Văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [111, tr.10], văn hóa, kèm luôn cách hiểu về văn minh đƣợc là một hay bao gồm tất cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống con ngƣời nhƣ tri thức, tín ngƣỡng, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật… Còn UNESCO thì cho rằng: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [112, tr.10], văn hóa nhƣ một hệ thống tổng hợp các mặt trong đời sống của con ngƣời. Các khái niệm về văn hóa đƣợc đƣa ra từ nhận định ở nƣớc ngoài cũng có nhiều điểm tƣơng đồng với Việt Nam. Họ cho rằng văn hóa, bao hàm 10 nghĩa rất rộng, cũng là do con ngƣời tạo ra, có liên quan đến nhiều mặt trong đời sống của con ngƣời, ở mỗi dân tộc sẽ có những cái riêng về văn hóa của mình để có sự phân biệt với văn hóa khác.
Tóm lại, qua những gì trình bày, chúng ta có thể hiểu văn hóa là những gì do con ngƣời sáng tạo ra bao gồm các mặt chất và tinh thần của đời sống xã hội, đƣợc đúc kết từ trong hoạt động thực tiễn. Đặc điểm rõ nhất là Văn hóa tạo nên những nét riêng biệt của một quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác. Văn hóa mang các giá trị truyền thống, sáng tạo, kế thừa và đƣợc phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác trải qua một tiến trình lịch sử lâu dài. Qua đó, Luận văn xin đƣa ra khái niệm riêng của mình về văn hóa: “Văn hóa có ý nghĩa rất lớn và rất riêng đối với mỗi quốc gia, dân tộc, bao gồm tất cả những giá trị tốt đẹp, tinh hoa được tạo ra từ con người trong quá trình lao động, sản xuất, có sự đúc kết, truyền thừa thì đó là văn hóa.
Văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc. Khái niệm này giúp luận văn hiểu, thu thập và phân tích đƣợc các vấn đề liên quan đến văn hóa. Khái niệm về Di sản văn hóa (DSVH) Theo Luật DSVH (2001) có nói đến DSVH Việt Nam: “DSVH Việt Nam là tài sản qúy giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [48, tr. Điều này nói đến DSVH Việt Nam có vai trò rất quan trọng không chỉ ở nƣớc ta mà còn đối với cả nhân loại, vì vậy mà chúng ta phải có trách nhiệm bảo vệ.
DSVH ở đây đƣợc đề cập đến bao gồm 2 loại là DSVH vật thể (tangible) và DSVH phi vật thể (intangible), là những sản phẩm vật chất, tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Khái niệm DSVH vật thể Trƣớc khi nói đến khái niệm DSVH vật thể, xin đƣợc nêu sơ lƣợc về văn hóa vật thể: Là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con ngƣời dƣới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống con ngƣời nhƣ: dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, phƣơng tiện truyền thông, giao thông, nhà cửa, công trình công cộng (đình, chùa, miếu, miễu…)… [42, tr. Theo Luật DSVH (2009) thì DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị liên quan đến lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [49, tr. Khái niệm này cho biết, DSVH vật thể là những hiện vật có thể nhìn thấy và sờ chạm đến đƣợc, là hiện vật thật, có không gian và thời gian tồn tại nhất định, ví dụ về di tích lịch sử - văn hóa nhƣ: đình, chùa, miếu, mạo… 1.
Khái niệm DSVH phi vật thể Theo khoản 1 điều 4 của Luật DSVH (2009) thì DSVH phi vật thể đƣợc xem là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng, không ngừng đƣợc tái tạo và lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn hay các hình thức khác [49, tr. DSVH Phi vật thể là những gì liên quan đến yếu tố tinh thần, sự đúc kết kinh nghiệm, sự trao truyền tiếp nối của các thế hệ… có lệ thuộc đến phạm vi không gian, thời gian dài ngắn khác nhau. Trong Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể quốc tế (UNESCO) năm 2003, có đƣa ra khái niệm về DSVH phi vật thể: Là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ 12 vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm ngƣời và trong một số trƣờng hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ và phải đƣợc trao truyền qua nhiều thế hệ theo thời gian. Việc đƣa ra khái niệm về DSVH, DSVH vật thể và DSVH phi vật thể giúp đề tài phân biệt rõ đối tƣợng nghiên cứu ban đầu chính là di tích lịch sử - văn hóa Văn Thánh Miếu.
Từ đối tƣợng chung là Văn Thánh Miếu lại đƣợc chia ra thành 2 đối tƣợng cụ thể có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại: Trong Văn Thánh Miếu những gì liên quan đến hiện vật đƣợc cho là DSVH vật thể và những gì liên quan đến tinh thần nhƣ nghi thức cúng, lễ cúng… thuộc về DSVH phi vật thể và chung quy hai vấn đền vật thể và phi vật thể này lại để hiểu Văn Thánh Miếu là DSVH. Khái niệm về giá trị và phân loại giá trị 1.