Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 1. Khái niệm * Khái niệm Di sản văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt thì “Di sản văn hóa” với nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.
Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên [39]. Điều 1 của Luật Di sản văn hoá Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hoá như sau: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định: “Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian. Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích); Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Điều 1 của Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 định nghĩa di sản văn hóa như sau: “Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học. Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các 13 di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học” (UNESCO, Điều 1, 1972). Phân loại di sản văn hoá: Việc tiến hành phân loại DSVH là một nhu cầu thiết thực, khoa học, góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, đặc biệt đối với công tác tu bổ, bảo tồn các DSVH.
Điều 4 của Văn bản hợp nhất Luật DSVH năm 2013 ghi rõ [71, tr. 1]: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. Tuy nhiên, sự phân định này cũng chỉ mang tính tương đối với mục đích để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản.
Trên thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Trong khi đó, DSVH phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của DSVH vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên DSVH vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của DSVH phi vật thể ấy. Ngoài ra, còn có cách là căn cứ trên giá trị của di sản để phân chúng thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay nhóm di sản có mức độ quan trọng cấp quốc tế; cấp quốc gia hay cấp địa phương. Nhìn chung, các DSVH vẫn có bốn đặc điểm chung, đó là: Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; tính lịch sử là những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng; tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác được phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ; tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học.
14 Theo tác giả thì đồng ý với định nghĩa Luật DSVH của Việt Nam; DSVH là bao gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm vật chất, tinh thần được truyền từ thế hệ này đến thế khác ở nước Việt Nam. DSVH Việt Nam là minh chứng cho lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, là tài sản quý giá, là niềm tự hào của dân tộc và là một bộ phận của di sản văn hóa của thế giới. Vì vậy, DSVH trở thành nguồn lực phi vật thể đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta. * Khái niệm bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa - Khái niệm Bảo tồn Năm 2012 Nguyễn Thịnh xuất bản công trình Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc và những vấn đề về quản lý và bảo tồn, tác giả cho rằng: “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ được giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết” [58, tr.
Ngoài ra có thể hiểu: Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động đặc trưng của con người để nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định duy trì tính xác thực (authenticity) của các quá trình phát triển và đa dạng của di sản văn hóa nhằm phát triển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai [58, tr. Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (2013) thì bảo tồn: “Giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: Bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hóa các dân tộc” [76, tr. - Khái niệm Phát huy Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (2013), tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng:“Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: Phát huy sức mạnh tập thể” [76, tr. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [73, tr.
Trong luận văn tác giả cùng quan điểm với công trình “ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội” của tác giả Võ Quang Trọng (chủ biên) (2010): Phát huy có nghĩa là những “Hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong việc thực hiện xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ít vật chất và tinh thần cho 15 con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội” [61, tr. * Khái niệm di tích Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” xuất bản năm 2013 cho rằng di tích có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu”; nghĩa thứ hai: “Di tích là di sản văn hóa lịch sử bất động: Di sản văn hóa” [76]. Còn trong quyển sách “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì định nghĩa: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [73]. Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra khái niệm khoa học về di tích như sau: Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Như vậy, di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Tại Chương 3, Điều 11 của Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH về phân loại di tích thì di tích được phân thành 4 loại [31, tr. 6]: - Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); - Di tích kiến trúc nghệ thuật; - Di tích khảo cổ; - Danh lam thắng cảnh. Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích chia thành 3 loại: Di tích cấp tỉnh - là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương do UBND tỉnh ra quyết định công nhận; di tích quốc gia - là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ VHTTDL ra quyết định công nhận; di tích quốc gia đặc biệt - là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích quốc gia [31].
Về hình thức quản lý di tích được chia thành 3 loại: 16 - Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý: Là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các BQL di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý. Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa. trực tiếp cho BQL di tích. - Di tích do cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý: Là các di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh được giao cho tổ chức, nhân dân trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ.
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: Nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ. Tùy theo điều kiện khai thác giá trị di tích để phân thành 2 loại là di tích có khả năng khai thác và di tích chưa có khả năng khai thác.