chương 1, người viết đã tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và mối quan hệ của loại hình nghệ thuật này với du lịch. Đây chính là tổng quan cơ sở lý luận để người viết tìm hiểu sâu hơn về loại hình nghệ thuật diễn xướng hát Dô ở Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Nội trong chương 2. Chương 2 TÌM HIỂU VỀ NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG HÁT DÔ Ở LIỆP TUYẾT - QUỐC OAI - HÀ NỘI 2. Khái quát về Liệp Tuyết -Quốc Oai- Hà Nội 2.
Điều kiện tự nhiên và dân cư 2. Điều kiện tự nhiên Mảnh đất Liệp Tuyết nằm uốn khúc theo dòng Tích Giang thơ mộng, ở phía tây nam của huyện Quốc Oai, là khu vực bán sơn địa; phía bắc giáp với xã Ngọc Liệp, phía nam giáp với xã Cấn Hữu, phía đông là xã Ngọc Mĩ, phía tây giáp xã Tuyết Nghĩa và phần đông nam của xã giáp với xã Nghĩa Hương. Có thể nói vùng đất này là nhịp cầu nối liền các xã trong huyện, và nối liền giữa vùng rừng núi với vùng đồng bằng. Vì vậy, địa hình nơi đây cũng có nhiều dạng khác nhau, vừa có đồng bằng,vừa có thung lũng và núi.
Hiện nay, xã Liệp Tuyết gồm có 6 thôn: Đại Phu, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại, Thông Đạt và Đồng Sơn. Trước kia, từ Hà Nội muốn đến Liệp Tuyết thì phải đi khá xa và vất vả: từ thị xã Hà Đông đi theo con đường 430, qua địa phận xã Đại Mỗ đi về thị trấn Quốc Oai, tiếp tục đi theo đường huyện lộ khoảng 10 km là tới địa phận xã Liệp Tuyết. Từ khi con đường Láng - Hòa Lạc được hình thành thì việc đi lại trở nên dễ dàng hơn. Con đường từ thành phố Hà Nội đến Liệp Tuyết khoảng 20 km, theo đường Láng - Hòa Lạc đến cầu Liệp Mai, rẽ trái, đi qua địa phận xã Ngọc Liệp là đến Liệp Tuyết.
Vị trí địa lý thuận lợi hơn cũng là cơ sở để Liệp Tuyết phát triển và mở rộng giao lưu với các vùng khác trong tỉnh. Cảnh vật cùng với vị trí như vậy đã tạo nên một đời sống và sinh hoạt văn hóa hết sức phong phú. Đó cũng là môi trường thuận lợi cho nhiều loại hình diễn xướng dân gian tồn tại và phát triển.Dân cư Dân cư ở Liệp Tuyết khá thuần nhất, đời sống của họ chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, đây là vùng không có giao thông thuận lợi nên ít có sự trao đổi buôn bán, cũng không phải là vùng quê trù phú nên dân cư ở đây không có nhiều sự biến đổi.
Trải qua các thời kỳ lịch sử cũng chưa thấy có tài liệu nào ghi chép về sự hình thành làng xóm ở đây và nhân khẩu là bao nhiêu. Chỉ đến giai đoạn sau này, mới có những thống kê cụ thể. Theo điều tra dân số của xã, năm 1957 xã Liệp Tuyết có tổng số 537 hộ với 2. Năm 2005 dân số của xã là 5.002 người, gấp đôi năm 1957.
Đến năm 2008, theo số liệu điều tra của Ủy ban nhân dân xã, dân số ở Liệp Tuyết là khoảng 1.170 nhân khẩu và có khoảng 20 dòng họ lớn nhỏ. Thành phần dân tộc chủ yếu ở đây là người Việt. Trong đó có những dòng họ lớn: Kiều, Nguyễn, Phạm, Đỗ, Tạ, Đặng, Bùi… là những cư dân bản địa. Vì thế tính cộng đồng rất cao, mối quan hệ làng xã gần gũi.
Kinh tế Cũng như những làng quê khác trên đất nước ta, nền kinh tế chủ yếu của xã là sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích canh tác ở Liệp Tuyết có 1.736 mẫu (tương đương với 6. Diện tích đất phù sa chủ yếu ở vùng ven sông Tích và được chia thành hai phần: - Vùng ngoài đê sông Tích: Đây là vùng chiếm diện tích lớn, nằm liền kề với miền bán sơn địa, hay nói cách khác ở đây có sự đan cài giữa những chân ruộng cao, với một số ruộng trũng lầy lội. Vùng này thường phải chịu úng lụt ở những ruộng thấp, còn ruộng cao thì chớm nắng đã khô và thiếu nước.
Rất khó để có thể sản xuất nông nghiệp một cách thuận lợi. - Vùng trong đê: Là diện tích nằm ven đê sông Tích. Nó chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (diện tích này khá màu mỡ, dễ dàng cho việc tiến hành canh tác nông nghiệp). Còn lại đa số là vùng trũng, lầy lội quanh năm.
Đó là rốn nước của cả vùng này. Xưa kia, khi hệ thống thủy lợi còn kém, công tác thoát nước không tốt thì các xóm của Liệp Tuyết đều ngập úng trong nước quanh năm, người dân ở đây đã quen với cảnh “6 tháng đi bằng chân, 6 tháng đi bằng tay”. Vì vậy, nhân dân trong vùng luôn lưu truyền câu ca: “Ăn cơm mỗi bữa mỗi lo Lấy chồng Liệp Tuyết chỉ lo lội đìa.” Vì cuộc sống khá chật vật nên người dân nơi đây còn phải lên rừng kiếm củi để bán. Nhưng công việc này rất vất vả và giá thành không được bao nhiêu, chỉ đủ cho một cuộc sống đạm bạc.
Ngoài ra, ở thôn Bái Nội có nghề thợ mộc, nhưng không nổi tiếng trong vùng. Nhân dân ngoài những khi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” thì nhiều người đi đánh đá ong, chặt giang hoặc đánh bắt tôm cá để kiếm sống. Từ khắp các đường làng, ngõ xóm, hầu như nhà nào cũng làm sản phẩm bằng giang. Hình ảnh đầu tiên mà du khách có thể bắt gặp khi bước vào đầu làng chính là những sản phẩm này được bày phơi la liệt.
Đó cũng chính là những đóng góp để giúp cuộc sống của người dân có thêm những khoản thu nhu nhập cao hơn. Nghề này được làm chủ yếu vào những lúc nông nhàn, khi mà hết mùa gặt, mùa cấy. Thu nhập từ nghề này khá lớn, với mức bình quân là 3,5 triệu đồng/năm, góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất của nhân dân. Đến nay, cả 5 thôn của xã đã được công nhận là làng nghề mây giang đan xuất khẩu, có tới 95% số hộ làm nghề, giải quyết việc làm thường xuyên, có thu nhập ổn định cho khoảng 2.800 lao động lúc nông nhàn, nâng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hàng năm từ 25 đến 30% trong cơ cấu kinh tế.3 Lịch sử Xã Liệp Tuyết vốn là một vùng đất cổ, nằm ở phía tả ngạn sông Tích.
Nhân dân quanh đó thường gọi Liệp Tuyết là “nhất xã, lục thôn, bảy trại”. Cũng theo thần phả Quán Cả (tức thôn Đại Phu) và câu chuyện truyền thuyết về vị quan lang tên là Chiêu Công được vua Hùng Vương thứ 6 phong tước hầu, cho về cai quản vùng đất Lạp Hạ. Chiêu Công lấy vợ người làng Vĩnh Phúc (bà có tên là Nguyễn Thị Kim Nương) rồi xây dựng “Đại Phu cung tứ đệ” và sinh được ba người con trai (người con cả tên là Triều; con thứ hai tên là Thần; con thứ ba tên là Gia). Về sau ba người theo Thánh Gióng đánh giặc Ân và được nhân dân tôn thờ làm thành hoàng làng, kéo theo truyền thống về quan hệ ruột thịt giữa ba thôn: Đại Phu, Vĩnh Phúc, Bái Nội và Ngoại.
Truyền thuyết này đã khẳng định sự lâu đời của mảnh đất này. Trong suốt chiều dài lịch sử, mỗi một thời kỳ xã Liệp Tuyết lại có địa giới hành chính khác nhau. Theo sách “Các tổng trấn xã danh bi lãm” (Tên làng xã Việt Nam) do viện nghiên cứu Hán Nôm biên soạn thì vùng đất Liệp Tuyết hiện nay xưa là xã Lạp Hạ, tổng Lạp Thượng, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Tên gọi này được mang đến tận đời vua Tự Đức thì xã Lạp Hạ được đổi thành xã Liệp Tuyết.
Xã Liệp Tuyết (cũ) gồm có các thôn Đại Phu, Vĩnh Phúc, Thông Đạt, Bái Nội, Bái Ngoại, Đồng Sơn và các trại: Đất Đỏ, Ao Sen, Đồng Thịt, Đồng Giai, Thông Đạt, Trại Quyên, Trại Trai và phù hợp với câu ca “sáu thôn, bảy trại”. Đến trước năm 1955, thì Liệp Tuyết và Tuyết Nghĩa vẫn hợp nhất thành một địa danh hành chính. Với tổng diện tích khi đó là khoảng hơn 681 ha. Năm 1955, thì địa phận xã Liệp Tuyết ổn định với năm thôn: Đại Phu, Sơn Đồng, Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại và trại Thông Đạt, chiếm khoảng 60% tổng số diện tích xã Liệp Tuyết cũ, còn thôn Đồng Sơn và sáu trại còn lại được tách ra hợp với xã Nghĩa Hương thành lập xã Tuyết Nghĩa.
Năm 1965, Ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn hợp nhất Hà Đông và Sơn Tây theo Quyết định số 103/NQ/TVQH ngày 21/9/1965 thì xã Liệp Tuyết thuộc về huyện Quốc Oai của tỉnh Hà Tây. Năm 1976, Quốc hội lại phê chuẩn sát nhập hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành Hà Sơn Bình, xã Liệp Tuyết vì thế thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1979, huyện Quốc Oai được cắt về Hà Nội, xã Liệp Tuyết thuộc về Hà Nội. Năm 1991, Liệp Tuyết thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Và vào ngày 01/08/2008, theo quyết định của Chính phủ thì tỉnh Hà Tây chính thức sát nhập vào Hà Nội. Vì vậy, xã Liệp Tuyết hiện nay thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.Giáo dục Tìm hiểu về xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, chúng ta thấy mảnh đất này rất giàu truyền thống hiếu học. Nơi đây đã ghi danh nhiều người đỗ đạt. Trước kia, bên cạnh đền Khánh Xuân, đình, chùa còn có văn chỉ.
Nơi này để thờ riêng những bậc khoa cử trong làng, nhưng đến hiện nay những bia và văn chỉ không còn nữa, mà chỉ thấy danh tiếng và công trạng của các vị trạng nguyên được ông Hoàng Văn Thức (85 tuổi) cất giữ. Người nổi bật và được nhân dân gần xa biết đến nhiều nhất đó chính là Hoàng Nhị giáp Kiều Phú, người thôn Vĩnh Phúc, tên húy là Quốc Phú, tên tự là Hảo Lễ tiên sinh. Ông Kiều Phú (1446 - 1503) khi nhỏ sống trong gia đình nghèo khó, phải đi làm thuê. Song, do thông minh và ham học nên mẹ ông xin cho theo học Trạng nguyên Nguyễn Trực ở xã Nghĩa Hương cùng huyện.
Được thầy giáo tận tình dạy dỗ và bạn bè quý mến giúp đỡ, ông đã lần lượt thi đỗ các kỳ thi Hương đến thi Hội. Trong kỳ thi Hội năm Ất Mùi (1475) có tới ba nghìn thí sinh dự thi, Kiều Phú đã đỗ “đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân” (Hoàng giáp). Sau khi vinh quy bái tổ thì mẹ ông đau yếu và không may qua đời. Ông xin triều đình cho về quê chịu tang mẹ.
Ba năm sau hết tang, vua vời ông về kinh đô, bổ nhiệm làm quan. Ông từng giữ các chức Tham chính, Ngự sử rồi Trấn ti đề hình Thái Nguyên. Không những giữ trọn chữ hiếu với cha mẹ, ông còn tôn sư trọng đạo với thầy dạy của mình.