Chương 1, điều 4, khoản 4]. Trong Điều I của Hiến chương Vernice - Italia quy định “Di tích lịch sử - văn hoá bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [36, tr. Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “Di tích lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [37, tr. Tác giả Dương Văn Sáu cho rằng “Di tích lịch sử - văn hoá là những khu vực, địa điểm, các công trình với quy mô và tính chất khác nhau, ở đó lưu giữ và ghi lại những dấu ấn về các sự kiện - nhân vật lịch sử tiêu biểu có tác động, ảnh 16 hưởng sâu sắc, trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của địa phương, đất nước và dân tộc” [47, tr.
Đồng thời, di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí như được nêu rõ trong Điều 28 của Luật di sản văn hóa năm 2001: Các công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [44]. - Di tích lịch sử cách mạng Di tích lịch sử cách mạng là một loại hình di tích đặc biệt, khi được xếp chung với di tích lịch sử, đôi khi tách riêng và được gọi với danh xưng di tích cách mạng. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Hùng “Những di tích thuộc loại hình này là bằng chứng của một giai đoạn lịch sử, gắn với phong trào cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập ngày 03/02/1930 đến nay. Đây là một giai đoạn lịch sử làm thay đổi diện mạo và nâng cao vị thế của đất nước, dân tộc với nhiều cái mới (cách mạng) mà giai đoạn lịch sử trước đây chưa từng có” [40, tr.
Di tích cách mạng hay được gọi rộng hơn là di sản cách mạng bao gồm di sản vật thể và phi vật thể. Đây là những bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trong cuộc kháng chiến Pháp, Mỹ và những cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, Tây Nam và quá trình xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Di tích cách mạng của nước ta rất đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức. Mỗi loại di tích có nguồn gốc và giá trị khác nhau nhưng đều góp phần làm rạng danh trang sử hào hùng của dân tộc từ khi có Đảng lãnh đạo.
Đồng thời, các di tích cách mạng không gắn với màu sắc 17 tâm linh nên không thu hút và đóng góp đầu tư của người dân trong bảo tồn, phát huy giá trị cộng đồng. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các di tích cách mạng đều dựa vào nguồn vốn của Nhà nước [40]. - Quản lý di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa chính là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy mà việc quản lý di tích lịch sử - văn hóa được các cơ quan chuyên trách căn cứ Điều 54 trong Luật di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 như sau: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 2.
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; 4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; 5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 6.
Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [45, tr. Tóm lại, căn cứ trên những khái niệm về quản lý thì quản lý di tích lịch sử - văn hoá chính là sự định hướng một cách cụ thể bằng các văn bản hành chính Nhà nước có liên qua đến di tích lịch sử - văn hóa, đặc biệt là các điều nêu trong Luật di sản văn hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị điều hành phát huy được hiệu quả tối ưu trong việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử - văn hóa.
Cơ sở pháp lý - Những quan điểm của Đảng về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định mười nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa 18 Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó, nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [39].
Hay Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Số: 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết nhấn mạnh đến các vấn đề như: Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc. Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch.
Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một. Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Phát triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khắc phục tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài. Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị văn hóa tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng [1].
Đồng thời, theo “Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng”, Đảng đề cao tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, 19 đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam. Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hoá.
Đa dạng hoá các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá, chú trọng công trình văn hoá lớn, tiêu biểu. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hoá, bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc, bưu điện - văn hoá xã, khu vui chơi, giải trí.
Bảo vệ và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ. Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát huy văn hoá, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch [16].
Song song với những quan điểm của Đảng về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản Luật từ Trung ương đến địa phương liên quan đến hoạt động quản lý di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa nói riêng.