CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số khái niệm 1. Kiểng Cây kiểng có thể được coi là từ ghép của “cây” và “kiểng”, được hiểu theo các nghĩa sau: Hoàng Phê định nghĩa: “cây (dt) là thực vật có rễ, thân, lá rõ rệt hoặc vật có hình thù giống những thực vật có thân, lá” và “kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh” [Hoàng Phê, 2006: tr. Tương tự, Nguyễn Như Ý cũng giải thích: “cây (dt):1/ thực vật có thân, lá nói chung” và kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh [Nguyễn Như Ý, 1998: tr.
Theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, kiểng (dt) có hai nghĩa: 1/Cảnh (trồng kiểng): Ra về thấy kiểng thêm thương/Nhành mai ủ dột vách tường nhện giăng. 2/Kẻng (đánh kẻng) [Nguyễn Văn Ái, 1994: tr. Trong ca dao Nam Bộ, kiểng còn dùng với nghĩa là cảnh (hoàn cảnh): Mây muốn mưa, trời chưa có chuyển/Anh muốn gần nàng một kiểng hai quê. Những trường hợp còn lại kiểng được dùng với nghĩa là cây cảnh (loại cây được lựa chọn theo tiêu chí về kiểu dáng, rễ, gốc, cành, lá, khả năng tăng trưởng,… và được trồng nhằm mục đích trang trí).
Theo Huỳnh Văn Thới thì “kiểng là cảnh, là cảnh tượng vật thể để quan sát như phong cảnh. Người miền Bắc gọi cảnh, người miền Nam gọi là kiểng, do kiêng cữ tên của Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người đã có công đưa dân vào miền Nam để lập nghiệp ngày trước và cây kiểng là tiếng gọi chung cho tất cả cây trồng dùng để giải trí, để làm đẹp, để thưởng thức ngắm nhìn” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr. Từ những khái niệm trên, chúng tôi thấy có sự tương đồng trong cách định nghĩa cây là thực vật và kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh. Như vậy, có thể thống nhất rằng cây kiểng là cây cảnh theo cách gọi của người Nam Bộ.
11 Theo Hoàng Phê, cây cảnh là “cây trồng để làm cảnh nói chung” [Hoàng Phê, 2006: tr. Nguyễn Như Ý cho rằng cây cảnh là “cây có dáng đẹp, tán gọn, màu sắc của lá và hoa đẹp hoặc có dạng kỳ lạ, trồng để làm cảnh” [Nguyễn Như Ý, 1998: tr. Trần Quốc Vượng cũng định nghĩa “cây cảnh là cây trồng để ngắm, để chơi” [Trần Quốc Vượng, 2000: 559]. Từ đây, có thể hiểu khái quát cây cảnh hay cây kiểng là cây trồng để trang trí, để tạo cảnh đẹp trong nhà, trong vườn và nhiều không gian khác.
Kiểng cổ - kiểng thế Cách gọi kiểng cổ chỉ mới xuất hiện ở vài thập niên sau này, như để phân biệt với kiểng bonsai của Nhật Bản, từ khi loại hình này lan rộng vào miền Nam. Trước kia người ta chỉ gọi là cổ mộc, cây thế, cây cảnh. Đến bây giờ khi nghe từ kiểng cổ đại đa số đều liên tưởng đến loại hình kiểng chiết chi nhị diện1 và nó gần như là một định danh cụ thể cho loại hình kiểng này [Theo caycanhthanglong. Theo tác giả Mai Mỹ Duyên trong bài viết Mùa xuân nói về nghệ thuật kiểng cổ Tiền Giang, những nghệ nhân cao tuổi và các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở Tiền Giang cũng cho rằng: trước thập niên 80 không ai gọi là kiểng cổ, mà chỉ gọi đơn giản là kiểng.
Từ kiểng cổ chỉ mới xuất hiện trong khoảng thời gian gần đây, khi mà cây kiểng Nam Bộ bắt đầu trở thành một loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường2. Không ai biết rõ tên gọi kiểng cổ xuất hiện từ khi nào. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng chưa tìm được một từ điển hay công trình khoa học nào có giải nghĩa từ này. Nhưng thiết nghĩ, kiểng vốn là một cách gọi rất chung cho các loại cây trồng để làm đẹp và thực tế là có rất nhiều loại kiểng, mỗi loại lại có những đặc trưng và yêu cầu riêng.
Có lẽ vì thế, cái tên kiểng cổ đã xuất hiện và lưu hành trong giới những nghệ nhân và những người sành về loại hình này, để 1 Chiết chi là phân cành nhánh xen kẽ nhau với các đoạn cách nhau khá đều đặn [Trần Hợp, 2002: tr. Như vậy, chiết chi nhị diện tức là phân cành nhánh nằm xen kẽ ngang về hai bên và có khoảng cách đều nhau. 2 Mai Mỹ Duyên, Mùa Xuân nói về nghệ thuật kiểng cổ Tiền Giang – Bài đăng trên web Sở khoa học và công nghệ Tiền Giang, nguồn: http://www.vn/User/Index5.aspx?func=ndung_tsan&ma=54 12 định danh cụ thể và phân biệt nó với các loại kiểng khác, ở tiêu chí “cổ”. Khi loại kiểng này ngày càng được biết đến nhiều thì dần dần cái tên kiểng cổ cũng trở nên phổ biến hơn và được các nhà nghiên cứu, các tác giả viết sách định nghĩa, giải thích rõ ràng.
Trong Địa chí Tiền Giang (Tập II) có phần định nghĩa về cây kiểng cổ như sau: “Cây kiểng cổ là cây được uốn sửa một cách công phu, theo đúng số tàn, đúng nhánh, không thừa, không thiếu, mỗi thành phần trong cây đều có một giá trị nhất định, tiềm ẩn một triết lý sống. […] Bộ kiểng cổ ban đầu thường là bộ năm cây gọi là “Ngũ phúc” được xếp theo hình chữ ngũ. Bộ 3 cây gọi là bộ “Tam tài” xếp thẳng hàng. Cây trung bình được xếp ở giữa.
Sau này vì nhiều lý do rất khác nhau, kiểng cổ chỉ còn được thưởng ngoạn ở một cặp đối xứng nhau”. [Địa chí Tiền Giang, 2007: tr. Đến nay, thường khi nói tới từ kiểng cổ tức là những người chơi kiểng muốn nói đến loại kiểng thế ở Nam Bộ. Huỳnh Văn Thới trong cuốn Kiểng cổ chậu xưa cho rằng: “Kiểng thế là cây kiểng cổ đã uốn sửa thành thế theo ý muốn, có chủ tâm biểu hiện một ý nghĩa về triết lý, về tôn giáo, về đạo đức, về tư tưởng, hoặc để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, tình cảm một cách kín đáo… Kiểng thế bắt buộc phải uốn sửa đúng thiệu 3, đúng thế, đúng khuôn thước quy cách đã đề ra…” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr.
Như vậy, kiểng thế theo cách định nghĩa của tác giả Huỳnh Văn Thới cũng chính là đối tượng kiểng cổ mà người viết tìm hiểu trong đề tài. Nguyễn Như Ý thì định nghĩa rằng: “Cây thế (dt) là cây có dáng điệu gợi lên một hình tượng thẩm mỹ hoặc triết lý nào đó, cây thế đẹp có gốc to hơn thân, gốc và thân nhiều u bướu sần sùi, sẹo gốc, mốc mác, nhiều rễ nổi, điệu thân mềm mại, mang đường nét hội họa, cành thưa thoáng (khoảng 2 – 4 cành), so le nhưng cân bằng, tán không chèn nhau, lá nhỏ” [Nguyễn Như Ý, 1998: tr. 3 Theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nxb.Hồ Chí Mính, tr.533: thiệu là bài học nghề võ, cách nói của tác giả ở đây, có thể hiểu là các tàn nhánh phải được cắt tỉa, uốn sửa đúng bài bản. 13 Trần Hợp cũng định nghĩa: “Cây kiểng cổ hay cây uốn thế là cây vừa có tuổi thọ cao, vừa được uốn sửa theo các dáng thích hợp, thể hiện niêm luật chặt chẽ hơn trên cơ sở đạo Khổng” [Trần Hợp, 2002: tr.
Trong những khái niệm trên, cách định nghĩa, mô tả của các nhà nghiên cứu, các tác giả viết sách đã thể hiện quan điểm đồng nhất cây kiểng cổ chính là cây kiểng thế. Theo trên, chúng tôi nhận thấy, cách gọi kiểng cổ không chỉ dựa vào tiêu chí cây được trồng và uốn sửa lâu năm, mà còn phải tuân theo quy tắc nhất định (chữ “cổ” ý muốn nói đến tính cổ điển của loại kiểng này: cổ: xưa, cũ; điển: phép tắc)4. Chúng tôi cũng nhận thấy, gọi kiểng cổ hay kiểng thế đều chỉ cùng một đối tượng, nếu kiểng cổ là cách gọi theo tiêu chí thời gian lâu đời và cách uốn cây theo quy luật truyền thống cổ xưa, thì cách gọi kiểng thế là đề cập ngay vào tính chất nổi bật của loại kiểng này: các thế kiểng bài bản, có tên gọi và ý nghĩa cụ thể theo đúng sách vở, không phải lối kiểng tự do hay kiểng bonsai. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực địa cho thấy, người dân Cái Mơn – Bến Tre không dùng cách gọi kiểng thế, mà gọi là kiểng cổ.
Dù chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định cách gọi kiểng cổ là chính xác nhất, nhưng với việc xác định được hai tiêu chí quan trọng quyết định cách gọi này là tính lâu năm và tính quy tắc; hơn nữa, đây cũng là cách gọi thông dụng của người dân Cái Mơn và các địa phương có truyền thống về kiểng cổ ở Nam Bộ, vì thế cách gọi kiểng cổ được xem là hợp lý hơn cả trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này. Như vậy, chúng tôi chọn cách gọi thống nhất cho khóa luận là kiểng cổ và đưa ra định nghĩa sau: Kiểng cổ là cây kiểng được tạo thành từ việc uốn thế một cách công phu theo đúng quy chuẩn mẫu mực, không chỉ mang giá trị nghệ thuật, thể hiện cho tài năng, trí tuệ và tâm hồn của người làm nên nó, mà còn chứa đựng những ý nghĩa triết lý sâu xa. Những khái niệm liên quan kiểng cổ 4 Theo Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1989, tr.
14 Trong lĩnh vực kiểng cổ, hai khái niệm cốt yếu được nhắc đến nhiều nhất là dáng và thế. Dáng được định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt là “toàn bộ nói chung những nét đặc trưng của một người nhìn qua bề ngoài, như thân hình, cách đi đứng, cử chỉ”. [Hoàng Phê, 2006: tr. Dáng thường được dùng dáng đi, dáng đứng, vóc dáng, dáng vẻ, dáng điệu; nhiều lúc dáng trong các từ này còn được dùng cho cả vật.
Trong lĩnh vực cây kiểng, từ dáng cũng được dùng với ý nghĩa chỉ vẻ về ngoài của cây và được những người viết sách về kiểng giải thích như sau: Lê Quang Khang và Phan Văn Minh định nghĩa:“Dáng là nhìn tổng quát vẻ ngoại diên, là cái phương của một cây” [Lê Quang Khang - Phan Văn Minh, 2010: tr. Huỳnh Văn Thới giải thích cụ thể hơn: “Dáng là hình thức của cây kiểng, là điệu bộ dựa theo đó để uốn sửa thành thế kiểng như dáng cây đứng, dáng cây nằm, chớ không có uốn sửa thành thế, nên không có biểu hiện một ý nghĩa gì về đạo đức, về triết lý hay về tôn giáo cả” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr. Phạm Quang Đức trong sách Kiểng cổ Nam Bộ cũng nói: “Dáng có tính cách cố định” và “dáng thế đặc biệt chỉ dùng trong diện hoa cảnh mới đây” [Phạm Quang Đức, 2011: tr. Như vậy, dáng là từ chỉ hình thức bề ngoài của một cây cảnh, là đặc điểm sẵn có của cây và mang tính cố định mà dựa vào đó, con người sẽ biết phải uốn thế gì cho cây kiểng cổ.