Kiểng Cổ Trong Văn Hóa Người Nam Bộ Ở Cái Mơn Bến Tre

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Kiểng cổ trong văn hóa người nam bộ ở cái mơn bến tre khóa luận tốt nghiệp, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề .

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2013

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kiểng cổ và văn hóa Nam Bộ

Kiểng cổ là một nét văn hóa độc đáo của người Nam Bộ, đặc biệt tại Cái Mơn, Bến Tre. Nó không chỉ là nghệ thuật tạo hình cây cảnh mà còn mang giá trị tinh thần sâu sắc. Kiểng cổ phản ánh tình yêu thiên nhiên, sự sáng tạo và triết lý sống của người dân địa phương. Nghiên cứu này khám phá sự kết hợp giữa nghệ thuật bonsai và truyền thống địa phương, làm nổi bật vai trò của kiểng cổ trong đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể.

1.1. Nguồn gốc và đặc điểm

Kiểng cổ có nguồn gốc từ truyền thống chơi cây cảnh của người Nam Bộ, đặc biệt tại Cái Mơn. Nó khác biệt với bonsai Nhật Bản nhờ sự kết hợp giữa kỹ thuật uốn cây và triết lý phương Đông. Các thế cây như thế trực quân tử, thế xiêu phong thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Kiểng cổ còn là biểu tượng của sự kiên nhẫn và sáng tạo, phản ánh đặc trưng văn hóa của người Nam Bộ.

1.2. Giá trị văn hóa

Kiểng cổ không chỉ là tài sản vật chất mà còn mang giá trị tinh thần. Nó gắn liền với các nghi thức, tín ngưỡng và tình yêu thiên nhiên của người dân Cái Mơn. Qua kiểng cổ, người ta thể hiện triết lý sống, sự kế thừa và tiếp biến văn hóa. Nó còn là yếu tố thu hút du lịch, góp phần quảng bá văn hóa địa phương.

II. Kiểng cổ tại Cái Mơn Bến Tre

Cái Mơn được coi là cái nôi của kiểng cổ Nam Bộ. Nơi đây lưu giữ nhiều tác phẩm kiểng cổ độc đáo, phản ánh tài năng của các nghệ nhân địa phương. Kiểng cổ tại Cái Mơn không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là di sản văn hóa cần được bảo tồn. Nghiên cứu này làm rõ vai trò của kiểng cổ trong đời sống kinh tế, văn hóa và du lịch của địa phương.

2.1. Nghệ nhân và kỹ thuật

Các nghệ nhân tại Cái Mơn như ông Lại Văn Miêng và Huỳnh Văn Đủ đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển kiểng cổ. Họ sử dụng kỹ thuật uốn cây tinh tế, kết hợp với triết lý phương Đông để tạo nên các tác phẩm độc đáo. Những thế cây như thế tam tòng tứ đức, thế tam cương ngũ thường thể hiện sự sâu sắc trong nghệ thuật và tư tưởng.

2.2. Bảo tồn và phát triển

Kiểng cổ tại Cái Mơn đang đối mặt với nguy cơ mai một do sự thay đổi của xã hội hiện đại. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của kiểng cổ cần sự chung tay của cộng đồng và chính quyền địa phương. Các chương trình du lịch sinh thái và văn hóa có thể là giải pháp hiệu quả để quảng bá và bảo tồn di sản này.

III. Giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Kiểng cổ tại Cái Mơn mang cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Về vật thể, nó là sản phẩm nghệ thuật độc đáo, có giá trị kinh tế và thẩm mỹ. Về phi vật thể, kiểng cổ thể hiện triết lý sống, tín ngưỡng và tình yêu thiên nhiên của người dân Nam Bộ. Nghiên cứu này làm rõ sự kết hợp hài hòa giữa hai giá trị này trong đời sống văn hóa địa phương.

3.1. Giá trị vật thể

Kiểng cổ là tài sản quý giá của người dân Cái Mơn. Nó không chỉ dùng để trang trí mà còn là nguồn thu nhập quan trọng. Các tác phẩm kiểng cổ như cây nguyệt quế, cây mai chiếu thủy được trưng bày tại các công viên, sở tài chính, góp phần làm đẹp không gian công cộng.

3.2. Giá trị phi vật thể

Kiểng cổ mang giá trị tinh thần sâu sắc, phản ánh triết lý sống và tín ngưỡng của người Nam Bộ. Các thế cây như thế trực quân tử, thế xiêu phong thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Kiểng cổ còn là phương tiện giáo dục, truyền đạt các giá trị đạo đức và thẩm mỹ.

12/02/2025
Kiểng cổ trong văn hóa người nam bộ ở cái mơn bến tre khóa luận tốt nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số khái niệm 1. Kiểng Cây kiểng có thể được coi là từ ghép của “cây” và “kiểng”, được hiểu theo các nghĩa sau: Hoàng Phê định nghĩa: “cây (dt) là thực vật có rễ, thân, lá rõ rệt hoặc vật có hình thù giống những thực vật có thân, lá” và “kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh” [Hoàng Phê, 2006: tr. Tương tự, Nguyễn Như Ý cũng giải thích: “cây (dt):1/ thực vật có thân, lá nói chung” và kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh [Nguyễn Như Ý, 1998: tr.

Theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, kiểng (dt) có hai nghĩa: 1/Cảnh (trồng kiểng): Ra về thấy kiểng thêm thương/Nhành mai ủ dột vách tường nhện giăng. 2/Kẻng (đánh kẻng) [Nguyễn Văn Ái, 1994: tr. Trong ca dao Nam Bộ, kiểng còn dùng với nghĩa là cảnh (hoàn cảnh): Mây muốn mưa, trời chưa có chuyển/Anh muốn gần nàng một kiểng hai quê. Những trường hợp còn lại kiểng được dùng với nghĩa là cây cảnh (loại cây được lựa chọn theo tiêu chí về kiểu dáng, rễ, gốc, cành, lá, khả năng tăng trưởng,… và được trồng nhằm mục đích trang trí).

Theo Huỳnh Văn Thới thì “kiểng là cảnh, là cảnh tượng vật thể để quan sát như phong cảnh. Người miền Bắc gọi cảnh, người miền Nam gọi là kiểng, do kiêng cữ tên của Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người đã có công đưa dân vào miền Nam để lập nghiệp ngày trước và cây kiểng là tiếng gọi chung cho tất cả cây trồng dùng để giải trí, để làm đẹp, để thưởng thức ngắm nhìn” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr. Từ những khái niệm trên, chúng tôi thấy có sự tương đồng trong cách định nghĩa cây là thực vật và kiểng là phương ngữ Nam Bộ đồng nghĩa với cảnh. Như vậy, có thể thống nhất rằng cây kiểng là cây cảnh theo cách gọi của người Nam Bộ.

11 Theo Hoàng Phê, cây cảnh là “cây trồng để làm cảnh nói chung” [Hoàng Phê, 2006: tr. Nguyễn Như Ý cho rằng cây cảnh là “cây có dáng đẹp, tán gọn, màu sắc của lá và hoa đẹp hoặc có dạng kỳ lạ, trồng để làm cảnh” [Nguyễn Như Ý, 1998: tr. Trần Quốc Vượng cũng định nghĩa “cây cảnh là cây trồng để ngắm, để chơi” [Trần Quốc Vượng, 2000: 559]. Từ đây, có thể hiểu khái quát cây cảnh hay cây kiểng là cây trồng để trang trí, để tạo cảnh đẹp trong nhà, trong vườn và nhiều không gian khác.

Kiểng cổ - kiểng thế Cách gọi kiểng cổ chỉ mới xuất hiện ở vài thập niên sau này, như để phân biệt với kiểng bonsai của Nhật Bản, từ khi loại hình này lan rộng vào miền Nam. Trước kia người ta chỉ gọi là cổ mộc, cây thế, cây cảnh. Đến bây giờ khi nghe từ kiểng cổ đại đa số đều liên tưởng đến loại hình kiểng chiết chi nhị diện1 và nó gần như là một định danh cụ thể cho loại hình kiểng này [Theo caycanhthanglong. Theo tác giả Mai Mỹ Duyên trong bài viết Mùa xuân nói về nghệ thuật kiểng cổ Tiền Giang, những nghệ nhân cao tuổi và các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở Tiền Giang cũng cho rằng: trước thập niên 80 không ai gọi là kiểng cổ, mà chỉ gọi đơn giản là kiểng.

Từ kiểng cổ chỉ mới xuất hiện trong khoảng thời gian gần đây, khi mà cây kiểng Nam Bộ bắt đầu trở thành một loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường2. Không ai biết rõ tên gọi kiểng cổ xuất hiện từ khi nào. Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng chưa tìm được một từ điển hay công trình khoa học nào có giải nghĩa từ này. Nhưng thiết nghĩ, kiểng vốn là một cách gọi rất chung cho các loại cây trồng để làm đẹp và thực tế là có rất nhiều loại kiểng, mỗi loại lại có những đặc trưng và yêu cầu riêng.

Có lẽ vì thế, cái tên kiểng cổ đã xuất hiện và lưu hành trong giới những nghệ nhân và những người sành về loại hình này, để 1 Chiết chi là phân cành nhánh xen kẽ nhau với các đoạn cách nhau khá đều đặn [Trần Hợp, 2002: tr. Như vậy, chiết chi nhị diện tức là phân cành nhánh nằm xen kẽ ngang về hai bên và có khoảng cách đều nhau. 2 Mai Mỹ Duyên, Mùa Xuân nói về nghệ thuật kiểng cổ Tiền Giang – Bài đăng trên web Sở khoa học và công nghệ Tiền Giang, nguồn: http://www.vn/User/Index5.aspx?func=ndung_tsan&ma=54 12 định danh cụ thể và phân biệt nó với các loại kiểng khác, ở tiêu chí “cổ”. Khi loại kiểng này ngày càng được biết đến nhiều thì dần dần cái tên kiểng cổ cũng trở nên phổ biến hơn và được các nhà nghiên cứu, các tác giả viết sách định nghĩa, giải thích rõ ràng.

Trong Địa chí Tiền Giang (Tập II) có phần định nghĩa về cây kiểng cổ như sau: “Cây kiểng cổ là cây được uốn sửa một cách công phu, theo đúng số tàn, đúng nhánh, không thừa, không thiếu, mỗi thành phần trong cây đều có một giá trị nhất định, tiềm ẩn một triết lý sống. […] Bộ kiểng cổ ban đầu thường là bộ năm cây gọi là “Ngũ phúc” được xếp theo hình chữ ngũ. Bộ 3 cây gọi là bộ “Tam tài” xếp thẳng hàng. Cây trung bình được xếp ở giữa.

Sau này vì nhiều lý do rất khác nhau, kiểng cổ chỉ còn được thưởng ngoạn ở một cặp đối xứng nhau”. [Địa chí Tiền Giang, 2007: tr. Đến nay, thường khi nói tới từ kiểng cổ tức là những người chơi kiểng muốn nói đến loại kiểng thế ở Nam Bộ. Huỳnh Văn Thới trong cuốn Kiểng cổ chậu xưa cho rằng: “Kiểng thế là cây kiểng cổ đã uốn sửa thành thế theo ý muốn, có chủ tâm biểu hiện một ý nghĩa về triết lý, về tôn giáo, về đạo đức, về tư tưởng, hoặc để bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, tình cảm một cách kín đáo… Kiểng thế bắt buộc phải uốn sửa đúng thiệu 3, đúng thế, đúng khuôn thước quy cách đã đề ra…” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr.

Như vậy, kiểng thế theo cách định nghĩa của tác giả Huỳnh Văn Thới cũng chính là đối tượng kiểng cổ mà người viết tìm hiểu trong đề tài. Nguyễn Như Ý thì định nghĩa rằng: “Cây thế (dt) là cây có dáng điệu gợi lên một hình tượng thẩm mỹ hoặc triết lý nào đó, cây thế đẹp có gốc to hơn thân, gốc và thân nhiều u bướu sần sùi, sẹo gốc, mốc mác, nhiều rễ nổi, điệu thân mềm mại, mang đường nét hội họa, cành thưa thoáng (khoảng 2 – 4 cành), so le nhưng cân bằng, tán không chèn nhau, lá nhỏ” [Nguyễn Như Ý, 1998: tr. 3 Theo Từ điển phương ngữ Nam Bộ, Nxb.Hồ Chí Mính, tr.533: thiệu là bài học nghề võ, cách nói của tác giả ở đây, có thể hiểu là các tàn nhánh phải được cắt tỉa, uốn sửa đúng bài bản. 13 Trần Hợp cũng định nghĩa: “Cây kiểng cổ hay cây uốn thế là cây vừa có tuổi thọ cao, vừa được uốn sửa theo các dáng thích hợp, thể hiện niêm luật chặt chẽ hơn trên cơ sở đạo Khổng” [Trần Hợp, 2002: tr.

Trong những khái niệm trên, cách định nghĩa, mô tả của các nhà nghiên cứu, các tác giả viết sách đã thể hiện quan điểm đồng nhất cây kiểng cổ chính là cây kiểng thế. Theo trên, chúng tôi nhận thấy, cách gọi kiểng cổ không chỉ dựa vào tiêu chí cây được trồng và uốn sửa lâu năm, mà còn phải tuân theo quy tắc nhất định (chữ “cổ” ý muốn nói đến tính cổ điển của loại kiểng này: cổ: xưa, cũ; điển: phép tắc)4. Chúng tôi cũng nhận thấy, gọi kiểng cổ hay kiểng thế đều chỉ cùng một đối tượng, nếu kiểng cổ là cách gọi theo tiêu chí thời gian lâu đời và cách uốn cây theo quy luật truyền thống cổ xưa, thì cách gọi kiểng thế là đề cập ngay vào tính chất nổi bật của loại kiểng này: các thế kiểng bài bản, có tên gọi và ý nghĩa cụ thể theo đúng sách vở, không phải lối kiểng tự do hay kiểng bonsai. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực địa cho thấy, người dân Cái Mơn – Bến Tre không dùng cách gọi kiểng thế, mà gọi là kiểng cổ.

Dù chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định cách gọi kiểng cổ là chính xác nhất, nhưng với việc xác định được hai tiêu chí quan trọng quyết định cách gọi này là tính lâu năm và tính quy tắc; hơn nữa, đây cũng là cách gọi thông dụng của người dân Cái Mơn và các địa phương có truyền thống về kiểng cổ ở Nam Bộ, vì thế cách gọi kiểng cổ được xem là hợp lý hơn cả trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này. Như vậy, chúng tôi chọn cách gọi thống nhất cho khóa luận là kiểng cổ và đưa ra định nghĩa sau: Kiểng cổ là cây kiểng được tạo thành từ việc uốn thế một cách công phu theo đúng quy chuẩn mẫu mực, không chỉ mang giá trị nghệ thuật, thể hiện cho tài năng, trí tuệ và tâm hồn của người làm nên nó, mà còn chứa đựng những ý nghĩa triết lý sâu xa. Những khái niệm liên quan kiểng cổ 4 Theo Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1989, tr.

14 Trong lĩnh vực kiểng cổ, hai khái niệm cốt yếu được nhắc đến nhiều nhất là dáng và thế. Dáng được định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt là “toàn bộ nói chung những nét đặc trưng của một người nhìn qua bề ngoài, như thân hình, cách đi đứng, cử chỉ”. [Hoàng Phê, 2006: tr. Dáng thường được dùng dáng đi, dáng đứng, vóc dáng, dáng vẻ, dáng điệu; nhiều lúc dáng trong các từ này còn được dùng cho cả vật.

Trong lĩnh vực cây kiểng, từ dáng cũng được dùng với ý nghĩa chỉ vẻ về ngoài của cây và được những người viết sách về kiểng giải thích như sau: Lê Quang Khang và Phan Văn Minh định nghĩa:“Dáng là nhìn tổng quát vẻ ngoại diên, là cái phương của một cây” [Lê Quang Khang - Phan Văn Minh, 2010: tr. Huỳnh Văn Thới giải thích cụ thể hơn: “Dáng là hình thức của cây kiểng, là điệu bộ dựa theo đó để uốn sửa thành thế kiểng như dáng cây đứng, dáng cây nằm, chớ không có uốn sửa thành thế, nên không có biểu hiện một ý nghĩa gì về đạo đức, về triết lý hay về tôn giáo cả” [Huỳnh Văn Thới, 1996: tr. Phạm Quang Đức trong sách Kiểng cổ Nam Bộ cũng nói: “Dáng có tính cách cố định” và “dáng thế đặc biệt chỉ dùng trong diện hoa cảnh mới đây” [Phạm Quang Đức, 2011: tr. Như vậy, dáng là từ chỉ hình thức bề ngoài của một cây cảnh, là đặc điểm sẵn có của cây và mang tính cố định mà dựa vào đó, con người sẽ biết phải uốn thế gì cho cây kiểng cổ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khám Phá Kiểng Cổ Trong Văn Hóa Người Nam Bộ Tại Cái Mơn Bến Tre là một tài liệu hấp dẫn giúp độc giả hiểu sâu hơn về nghệ thuật kiểng cổ, một nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Nam Bộ. Tài liệu không chỉ khám phá lịch sử và ý nghĩa của kiểng cổ mà còn làm nổi bật vai trò của nó trong đời sống tinh thần và thẩm mỹ của cộng đồng. Độc giả sẽ được dẫn dắt vào thế giới của những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, từ đó thêm trân quý giá trị văn hóa truyền thống.

Để mở rộng kiến thức về văn hóa Nam Bộ, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài lục bát và biến thể lục bát trong ca dao nam bộ, nghiên cứu sâu về thể thơ lục bát và biến thể của nó trong ca dao, một phần không thể thiếu của văn hóa dân gian. Nếu quan tâm đến nghệ thuật diễn xướng, Khoá luận tốt nghiệp nghệ thuật diễn xướng hát dô liệp tuyết quốc oai hà nội và khả năng khai thác phục vụ du lịch sẽ mang đến góc nhìn thú vị về loại hình nghệ thuật độc đáo này. Cuối cùng, để hiểu thêm về bảo tồn văn hóa, Luận văn bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của tộc người mnông ở tỉnh đăk nông nghiên cứu trường hợp ở xã đăk nia thị xã gia nghĩa là một tài liệu đáng đọc.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết và trân trọng hơn những giá trị văn hóa truyền thống.