mở đầu bằng câu lục, kết thúc bằng câu bát. Nếu bài thơ gầm nhiều câu thì có thẻ kết thúc bằng câu bát (bài thơ sẽ số câu chẵn) hoặc câu lục (bài thơ sẽ có câu lẻ) 1. Các kiểu biến thể lục bát Theo quan niệm của chúng tôi, lục bát biến thể có 3 loại sau đây: « Lục bát biến thể về vần «- Lục bát biến thể về luật bằng trắc (biến thể thanh điệu) © Luc bat bién thé vé sé tiéng. a) Luc bat biến thé về van: Loại biến thể này gồm có 3 kiểu là biến thê về vị trí gieo vần (gieo ở tiếng.
thứ 4), biến thể về âm sắc của vần (dùng vần trắc) và biến thể về hòa âm (dùng. van lặp, vần ép hoặc vần sai (lạc vận)). al) Bién thé vi trí gieo vần Khi van gieo ở tiếng thứ tư (vần bằng) thì tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6 của câu bát thay đối thanh điệu (B -> T) theo thế bù trừ. Ví dụ (19) Vợ chông là nghĩa phụ thê Tay áp, má kề sinh tử có nhau.
Tuy nhiên không phải khi nào thể bù trù đó cũng được thể hiện. Vi du: 23 (20) Chị em thì thật là hiền, Chỉ vì đồng tiền mà mắt lòng nhau. (VNP 134) a2) Biến thể về âm sắc của vần “Trong loại biến thể này, vần được gieo là vằn trắc (có thể gieo ở tiếng thứ 6 hoặc tiếng thứ 4 của câu bát) Ví dụ: thì tiến hay múa, iền thì ông táo chúa ra sân. (VNP 133) (22) Nam mô một bê lắy bốn, Người ta đã khốn lại còn nam mô.
Tuy nhiên không phải khi nào thế bù trù đó cũng được thể hiện. (23) Tò vò mày nuôi con nhộn, Đến khi nó lớn nó quện nhau di. Đây thực chất là ba lỗi về gieo vần. Ví dụ + Van lap (điệp vận).
(24) Tháp Mười di dễ khó về, Khi đi giỏ thịt, khi về giỏ cây. (ĐBCL 320) 24 + Vn ép (áp vận) (25) Ai đưa con kéc vô vườn, Để cho con kéc ăn buồng chuối tiêu. (ĐBCL 326) + Lạc vận (26) Ruộng đồng mặc sức chìm bay, Biển hỗ lai lắng mặc tình cá đua. Loại biến thể này gặp khi cách gieo vần như bình thường (vẫn bằng, tiếng.
thứ 6) nhưng tiếng thứ 2 của câu lục hoặc câu bát, hoặc tiếng thứ 4 của câu lục mang thanh điệu không đúng với luật. Vi du: + Tiếng thứ 2 của câu lục từ B -> T (21) Cá không ăn muối cá won, Con cưỡng cha mẹ, trăm đường con hư. (NTB 291) + Tiếng thứ 2 của câu bát tir B-> T (28) Chị kia có quan tiền dài, Có bị gạo nặng, coi ai ra gì! (VNP 133) + Tiếng thứ 4 của câu luc tir T -> B (29) Tối trăng còn hơn sáng sao. Dâu rằng núi lở còn cao hơn đôi.
«_ Khi tiếng thứ 6 từ B -> T thì như trên đã nói, không thê gieo vần bằng được, mà chỉ gieo được vần trắc (đã tính ở phần biến thể vần nên không xét thêm một lần nữa). ©) Biến thể về số tiếng Loại biến thể này có 2 dạng là giảm số tiếng và tăng số tiếng. Trong mỗi loại biến thể giảm số tiếng hay tăng số tiếng lại có 3 kiểu nhỏ là giảm (hoặc) thêm số tiếng ở câu lục, giảm (hoặc thêm) số tiếng ở câu bát, giảm (hoặc thêm), tiếng cả ở câu lục và câu bát. Tuy nhiên trên thực tế không thấy xuất hiện biến thể giảm số tiếng ở cả hai câu.
Vi du: + Giảm số tiếng ở câu lục: (0) Mèo khen mèo dài đuôi, (S) Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ tréo. (8) (VNP 123) + Giảm số tiếng ở câu bát (31) Có tiền, vị chồng chẳng, (6) Không tiền, chồng Đông vợ Đoài. (6) (VNP 134) + Thêm số tiếng ở câu lục (32) Lửa gần rơm không cháy cũng tròm trèm, (8) Đi ngang quán rượu hơi hèm muốn say. (8) (NTB 277) + Thêm số tiếng ở câu bát (33) Bạc tình chỉ lắm hỡi ai, (6) 26 Lên non cao trở mặt, xuống dốc dài quay lưng.
(10) (NTB 258) (34) Trách anh sao bạc nghĩa vô nghỉ, (7) Bây giờ có đôi có bạn, không nói gì với em. (11) (NTB 284) Các kiểu biến thể trên có thể phối hợp nhau trong một cặp câu lục bát Đây là loại biến thể phối hợp biển thể vần với biến thể bằng trắc hoặc biến thể số tiếng phối hợp biến thể Ví dụ: + Biển thé van kết hợp với biến thể bằng trắc (35) Chớ thấy áo rách mà cười, Những giống gà nòi, lông nó lơ thơ. (VNP 113) + Biển thể số tiếng phối hợp biến thể vần (36) Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi, (7) Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê. (8) (ĐBCL 321) (7) 4i làm con Ba nọ thất tình, (7) “Ăn cơm chẳng đặng, ăn trâu giải khuây.
(8) (ĐBCL 326) Trong phân tích tư liệu, chúng tôi không xem biến thê hỗn hợp là một loại riêng, mà tính số liệu theo từng loại biến thể đơn. Nhu vay, biến thể lục bát có 3 loại gồm 12 kiểu như sau: 27 Hinh 1. Sơ đồ các loại biến thể lục bát 1. ai trò của biến thể lục bát Nói về tác dụng của biến thể lục bát, hai tác giả Đỉnh Gia Khánh va Chu Xuân Diên cho biết: “Các thể thơ lục bát và song thất lục bát biến thể cũng hay được dùng trong ca dao, dân ca.
Đó là hình thức quá độ giữa lời nói có vẫn và lời thơ trau chuốt, rất tiện cho việc diễn tả được dễ dàng nhanh chóng và không. gò bó nhiều tư tưởng tình cảm của nhân dân. Ở những câu ca dao đã thành cổ truyền thì thơ lục bát và song thất lục bát biến thể lại thường có dụng ý rõ rệt về mặt nghệ thuật, làm tăng sức mạnh thể hiện của nội dung lên. Trong thí dụ sau đây, những câu thơ, nhất là hai câu sau, dài quá khổ, có tác dụng thể hiện được rõ hơn một lời than da diết, đay nghiền: (38) Nghĩ rằng em đã có chẳng rồi, Sao em chưa có đứng ngôi vân vi, Oi thay me oi! Cắm đoán em chỉ! ,Mười lăm, mười tám sao chả cho đi lầy chẳng! Trong một thí dụ khác sau đây, câu thơ dài quá khỏ lại có tác dụng nêu lên những khó khăn trùng điệp trong tình yêu mà “chàng trai” cương quyết vượt 28 qua: (39) Yêu em tam tứ núi cũng treo, That bát sông cũng lội.
tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua” [21, tr.369] Tác giả Mai Ngọc Chừ cũng có ý kiến tương tự về tác dụng của lục bát biến thể *Trong LBBT, số lượng âm tiết được tăng thêm (hoặc giảm đi ~ nhưng cực kỳ hiếm), đó là một điều kiện đóng vai trò quyết định để nhịp thơ thay đổi và nâng cao giá trị biểu đạt ngữ nghĩa. Khi số lượng âm tiết thay đổi, phá vỡ cái nhịp hai phẳng lặng, LBBT thường tạo nên một cách khác thường nếu như không nói là khó khăn, trong cách phát âm. Chính tiền đề iu am dy da la cơ sở để nó có ưu thế hơn trong việc diễn đạt những hoàn cảnh, điều kiện khó khăn không bình thường, không thuận lợi và sự khắc phục những trở ngạiấy. Ý nghĩa này được thể hiện khá rõ trong các câu ca dao về tình yêu đôi lứa (.
Phản ánh những mối tình không “suôn sẻ”, những hoàn cảnh éo le, những khúc mắc, trở ngại trong tình yêu, các tác giả vô. danh phần nhiều đã tạo những câu ca dao có hình thức LBBT” [7, tr.441] Theo Nguyễn Xuân Kính, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hình thức lục bat biến thể có bốn chức năng trong việc thể hiện nội dung: “chi chiết, đay nghiến; bộc lộ khó khăn và lòng quyết tâm vượt qua trở ngại; châm biếm, trào phúng; tranh luận, đấu lý” [32, tr.71] Với cách hiểu hẹp (chỉ có biến thé số tiếng), Nguyễn Xuân Kính cho rằng hình thức lục bát biến thể là “đặc sản” của ca dao, là nét riêng của thơ ca dân gian, không có trong truyện thơ, cũng không được sử dụng trong thơ trữ tình bác. Và với một số người “lục bát biến thể không phải là một hình thức thơ sang trọng”, nhưng với Hỗ Chủ tịch và Tố Hữu, hình thức bát biến thể “da trở nên bình đẳng với các hình thức khác của thơ, đã góp phần tạo nên những hiệu quả thắm mỹ mới” [32, tr.72] Còn tác giả Phan Diễm Phương thì cho rằng biến thể (và biến dạng) lục bát tạo sức sống hiện đại cho thơ lục bát. Theo tác giả thì bước sang giai đoạn 29 thơ ca hiện đại, lục bát và song thất lục bát không còn thế song hành vốn có như trong văn học thời trung đại và cận đại nữa.
Song thất lục bát mắt vị trí nỗi bật trên thi đàn vì cấu trúc quá chặt chẽ, ít sử dụng biến thé, bién dang, ít biến động. Trai lại, lục bát vẫn được sử dụng với (những tác phẩm có quy mô nhỏ), “lục bát tỏ ra linh hoạt, có thể đi vào thơ ca hiện đại với những khả năng. biến đổi, hòa nhập phong phú” [48, tr. Nguyên nhân của hiện tượng này là do lục bát: “Có thể xuất hiện ở dạng nguyên thể, cũng có thể phối hợp, xen kẽ các thé thơ khác; có thể duy trì hình thức chuẩn mực cổ điển, cũng có thể trở về dân gian hoặc “tiến lên” theo thi pháp thơ hiện đại, lục bát luôn tìm cách để tăng.
cường khả năng được vận dụng (. Sự linh hoạt, sáng tạo này khiến cho thể thơ luôn mang một sức sống dồi dào” [48, tr. Nguyên nhân hình thành biến thé luc bat Để giải thích sự có mặt của lục bát biến thể, Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình dựa vào ba nguyên nhân. (a) Có thể có những biến thể cổ xuất hiện vào lúc mô hình lục bát chưa thật định hình; (b) Có thể có những biến thể nảy sinh do việc đem thể lục bát phục vụ cho việc diễn xướng; (e) Có thể có những biến thể hình thành do sự linh động của nhà thơ, nhằm phục vụ yêu cầu diễn đạt một nội dung nào đó.
(Din theo [32, tr-69]) Nguyễn Xuân Kính cũng giải thich thém nguyén nhan (b) va (c) trong ý kiến của Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình: “sự có mặt của những lời dân ca, ca dao. lục bát biến thể chủ yếu là do làn điệu của việc ca hát quy định (đối với dan ca), do yêu cầu việc thể hiện một số nội dung nhất định (đối với ca dao)” [32, tr.69- 70] Hát xâm là thể hiện điển hình nhất của lục bát biến thể (biến thé số tiếng) Ví dụ: 30 (40) Lúc đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ (7) Canh tàn rượu tỉnh lúc bấy giờ em nghĩ thương thân. (11) Em tiếc thay trong giá trắng ngân.