Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài Chương 2: Đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Chương 3: Đặc điểm sử dụng từ vựng trong thơ Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. 3 z NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về từ và phân loại từ tiếng Việt 1. Một số quan điểm về từ Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên của ngôn ngữ, là khái niệm quan trọng nhưng cũng không hề đơn giản trong nghiên cứu ngôn ngữ học.
Saussure đã viết: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [29, tr. Do xuất phát từ sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong bản thân một ngôn ngữ nào đó nên các nhà ngôn ngữ học không có sự thống nhất trong cách định nghĩa về từ. Cho đến nay, đã có khoảng 350 định nghĩa khác nhau. Các nhà Việt ngữ học đi theo khuynh hướng chú ý đến tính nhiều mặt và đặc điểm riêng của từ đã đưa ra một số định nghĩa về từ trong tiếng Việt như: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.
16] Từ là đơn vị nhỏ nhất, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. 141] Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có khả năng vận dụng độc lập để tạo thành câu và có tính hoàn chỉnh về ngữ âm và ngữ nghĩa. 48] Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức. 61] Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”.
69] Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi chọn định nghĩa về từ của các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt làm cơ sở. Theo đó, từ là đơn vị nhỏ nhất, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Vấn đề phân loại từ trong tiếng Việt Từ vựng của mỗi ngôn ngữ là một kho tàng luôn vận động theo chiều hướng biến đổi và phát triển không ngừng. Để phân chia hệ thống từ vựng trong mỗi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu căn cứ vào các tiêu chí khác nhau với các mục đích khác nhau.
Về cơ bản, có hai hướng phân chia: theo quan điểm của ngữ pháp học, hệ thống từ được phân chia thành các từ loại; theo quan điểm của từ vựng học, hệ thống từ vựng được phân chia thành các lớp từ Việc phân loại từ vựng tiếng Việt thành các từ loại theo quan điểm của ngữ pháp học không hề đơn giản. Các nhà Việt ngữ học khi tiến hành phân loại dựa vào các tiêu chí khác nhau, do đó, kết quả phân loại có sự khác biệt. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong Lược sử Việt ngữ học [33] đã tổng hợp một số quan điểm phân định từ loại tiếng Việt của một số tác giả như: các tác giả Trần Trọng Kim, Phan Duy Khiêm, Bùi Kỷ xuất phát từ ý nghĩa của từ, chia vốn từ vựng tiếng Việt thành 13 từ loại: Danh tự, mạo tự, loại tự, chỉ thị tự, đại danh tự, tính tự, động tự, trạng tự, giới tự, liên tự, tán than tự, trợ ngữ tự, tiếng đệm….; Cùng dựa vào ba tiêu chí: ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp của từ nhưng các tác giả Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Bùi Minh Toán … lại có cách phân chia từ tiếng Việt không hoàn toàn giống nhau. Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Đức, từ tiếng Việt có thể chia thành 3 nhóm lớn: Thực từ (gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ), hư từ (gồm từ phụ, từ nối), tình thái từ (gồm tiểu từ và trợ từ).
[24] Nhóm tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung chia từ tiếng Việt thành 2 nhóm lớn với các từ loại cụ thể: thực từ (gồm danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ), hư từ là các phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ ( gồm trợ từ và tình thái từ), trong đó, số từ và đại từ là trung gian giữa thực từ và hư từ. [2] Theo tác giả Bùi Minh Toán, từ tiếng Việt có thể được chia thành: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ. [49] 5 z Nguyễn Minh Thuyết trong Dẫn luận ngôn ngữ học [28] lại chia từ vựng tiếng Việt thành ba mảng là thực từ (gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ), hư từ (gồm phó từ, kết từ, trợ từ) và thán từ. Nguyễn Thiện Giáp phân chia từ vựng tiếng Việt thành các tiểu loại cụ thể như: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, lượng từ, quán từ, trợ từ, liên từ, giới từ.
[32] Quan điểm dựa vào đoản ngữ để phân định từ loại tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn được khá nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ. Ông chia kho từ vựng: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ. Về quan điểm phân loại từ dưới góc độ của từ vựng học các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [12] chủ trương phân loại từ vựng tiếng Việt dựa vào các các cứ khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc, hệ thống từ vựng được chia thành: các từ ngữ gốc Hán, các từ gốc Ấn Âu; căn cứ theo phạm vi sử dụng, các tác giả chia hệ thống từ vựng thành: thuật ngữ, từ ngữ địa phương, từ nghề nghiệp, tiếng lóng, lớp từ chung; căn cứ vào mức độ sử dụng, chia hệ thống từ vựng thành lớp từ ngữ tích cực và lớp từ ngữ tiêu cực; phân lớp theo phong cách sử dụng, hệ thống từ vựng được chia thành: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, lớp từ ngữ trung hòa về phong cách.
Cũng theo quan điểm của từ vựng học, tác giả Đỗ Hữu Châu [10] đã phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành các lớp: thuật ngữ khoa học, từ vựng nghề nghiệp, biệt ngữ, từ ngữ địa phương, các lớp từ được phân chia theo phong cách chức năng. Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, để làm cơ sở cho việc phân tích, miêu tả đặc điểm từ vựng trong thơ Huy Cận, trong luận văn này, chúng tôi khảo sát từ vựng trong thơ Huy Cận theo 2 lớp từ cơ bản: lớp thực từ là những từ mang ý nghĩa từ vựng và lớp phụ từ đi kèm thực từ. Trong đó, mỗi lớp từ tiếp tục được phân chia thành các lớp nhỏ hơn. Lớp thực từ có thể chia thành: lớp từ định danh, lớp từ mang ý nghĩa hành động, lớp từ mang ý nghĩa tính chất.
6 z - Lớp từ định danh có thể được phân chia thành: lớp từ chỉ tên riêng biểu thị tên gọi của một sinh vật, một tập thể hay một sự kiện riêng biệt và lớp từ là tên gọi khái quát của cả một loại sự vật. Trong lớp từ chỉ tên gọi khái quát của sự vật, có thể chia thành 2 lớp: lớp từ chỉ đơn vị và lớp từ chỉ sự vật, khái niệm + Lớp từ chỉ đơn vị có thể chia thành hai tiểu loại: Một loại là từ chỉ đơn vị tự nhiên dùng để chỉ từng cá thể sự vật, lọai này gồm những đơn vị chỉ người: người, đứa, tên, thằng, con, anh, chị… và những đơn vị chỉ về động thực vật, sự vật, sự việc, khái niệm: con, cây, quả, cái, chiếc, bức, tấm, cuốn,. Loại thứ hai là từ chỉ đơn vị quy ước gồm những từ: tạ, cân, yến, thước, sào, mẫu, miếng, cục, đoạn, đoàn, bầy, loại, thứ… + Lớp từ chỉ sự vật, khái niệm được phân chia thành các tiểu loại: các từ chỉ người, các từ chỉ động thực vật, sự vật, sự việc và từ chỉ khái niệm trừu tượng (lớp từ có biệt loại): cậu sinh viên, cuốn sách, nền giáo dục…; lớp từ chỉ chất liệu: nước, đất, dầu… (lớp từ không biệt loại). - Lớp từ chỉ hành động được chia thành: lớp từ chỉ hoạt động, lớp từ chỉ trạng thái, lớp từ tình thái.
+ Lớp từ chỉ hoạt động lại có thể chia thành ba loại: thứ nhất, những từ chỉ hoạt động tác động: khuyên, sai, bảo, cho, tặng, cướp, ăn, mang, viết, vẽ….,những từ chỉ hoạt động không tác động lên đối tượng: ra, vào, lên, xuống, nằm, khóc, cười…., những từ chỉ hoạt động cảm nghĩ – nói năng, gồm các từ như: nghĩ, tưởng, ngỡ, thấy, yêu, ghét, trông, chờ… + Lớp từ dùng để biểu thị các trạng thái khác nhau của sự vật có thể chia thành: từ chỉ trạng thái xuất hiện, tồn tại – tiêu biến: có, còn, mọc, hiện…; từ chỉ trạng thái biến hóa: hóa, biến thành, hóa thành…, từ chỉ quan hệ: là, làm, như, y như + Lớp từ tình thái, biểu thị ý chí, nhu cầu, khả năng thực hiện một hoạt động nào đó hoặc biểu thị trạng thái tiếp thụ của sự vật. Đó là những từ như: cần, muốn, phải, toan, định, bị, được, chịu…. - Lớp từ chỉ đặc trưng hoặc tính chất của sự vật được chia lớp từ này thành: + Lớp từ chỉ đặc điểm về tính chất của sự vật, gồm các từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu…, từ chỉ cường độ: mạnh, yếu, lạnh, nóng…, từ chỉ hình thể: vuông, tròn, 7 z méo…, từ chỉ mùi vị: thơm, chua, cay…, từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ, vàng…, từ chỉ kích thước: to, nhỏ, cao thấp…, từ chỉ âm thanh: ồn ào, im ắng,… + Lớp từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, gồm các từ chỉ số lượng: nhiều, ít, dày, thưa…, từ chỉ trọng lượng: nặng, nhẹ…. Lớp phụ từ đi kèm thực từ có thể chia thành các lớp: - Lớp 1 gồm những từ có ý nghĩa trỏ hoặc thay thế cho ý nghĩa của các lớp thực từ.