Chương I “Một số vấn đề lý luận chung về tài nguyên du lịch nhân văn và xu hướng phát tiển du lịch hiện nay” chúng ta khẳng định rằng ngành du lịch ngày nay đang đóng góp rất nhiều vào cơ cấu kinh tế quốc dân của một quốc gia, nó có mối quan hệ với nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc …thúc đẩy giúp các ngành đó cùng phát triển. Có thể nói để phát triển đuợc du lịch không thể tách rời tài nguyên du lịch, tài nguyên du lịch có một vị trí hết sức quan trọng. Hiện nay xu hướng phát triển loại hình du lịch văn hóa đang ngày càng trở nên rõ nét và thu hút được nhiều sự quan tâm của du khách. Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên du lịch nhân văn đang có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi những tác động của nền kinh tế hiện đại.
Do vậy, cần đầu tư và tập trung nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về tài nguyên du lịch nhân văn để khai thác hợp lý, hiệu quả đang là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển du lịch hiện nay. Trịnh Thị Giang _ VH 1004 18 Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng CHƢƠNG II TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHÂN VĂN Ở HUYỆN THỦY NGUYÊN 2.1- KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUỶ NGUYÊN 2.1- Điều kiện tự nhiên 2.1- Vị trí địa lý Thủy Nguyên là một huyện nằm ở phía Bắc của thành phố Hải Phòng, trong giới hạn tọa độ 20°55’- 21o02’ vĩ độ Bắc và 106o33’- 106°45’ kinh độ Đông, diện tích 242,8km²(2004). Trên Bản đồ hành chính Hải Phòng, huyện Thủy Nguyên giống như một quả tim lớn, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp quận Hải An và nội thành Hải Phòng. Chiều dài của huyện từ Trại Sơn (An Sơn) đến bến Rừng (Tam Hưng ) là 23km, chiều rộng từ bến Bính đến cầu Đá Bạc 15 km.
Quốc lộ số 10 chạy dọc huyện nối liền Hải Phòng với thị xã Quảng Yên và thị xã Uông Bí (Quảng Ninh). Trên con đường này có nhiều cây cầu lớn như cầu Bính dài 1.280m, cầu Kiền dài 1.186m, cầu Đá Bạc dài 700m và cầu Giá dài 300m. Hiện nay, huyện Thủy Nguyên có 37 đơn vị hành chính gồm : 2 thị trấn Minh Đức, Núi Đèo và 35 xã : Gia Minh, Gia Đức, Minh Tân, Trung Hà, Ngũ Lão, Hoà Bình, Thuỷ Đường, Thiên Hương, Hoa Động, Lâm Động, Hoàng Động, Tam Hưng, Phục Lễ, Phà Lễ, Lập Lễ, Thuỷ Triều, Thuỷ Sơn, An Lư, Tân Dương, Dương Quan, Liên Khê, Lưu Kỳ, Kỳ Sơn, Lưu Kiếm, Chính Mỹ, Quảng Thanh, Kênh Giang, Đông Sơn, Mỹ Đồng, Lại Xuân, An Sơn, Phù Ninh, Hợp Thành, Cao Nhân, Kiền Bái.2- Khí hậu Khí hậu Thủy Nguyên mang tính nhiệt đới, nóng ẩm và gió mùa do sự chi phối của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, đặc biệt là không khí cực đới nên khí hậu ở đây chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều kéo dài từ Trịnh Thị Giang _ VH 1004 19 Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng tháng 5 đến tháng 9.
Mùa đông lạnh gần trùng vào mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3. Hai tháng 4 và 10 là hai tháng giao mùa. Sự phân chia mùa của khí hậu đẫn đến sự phân chia mùa trong hoạt động du lịch. Mùa đông giá rét hạn chế đến việc thu hút khách du lịch.
Khí hậu Thủy Nguyên bị chi phối sâu sắc bởi khí hậu của biển, làm giảm bớt nhiệt độ và độ ẩm, nhất là khu vực ven biển. - Bức xạ nhiệt : + Lượng bức xạ tại Thủy Nguyên đạt 220 đến 230 Kcal/cm², cực đại là 13-15h hàng ngày. + Tổng lượng bức xạ trung bình hàng ngày đạt 600Kcal/cm². + Cân bằng bức xạ hàng năm chỉ đạt số dương 65 -70 Kcal/cm².
Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để phát triển loại hành du lịch nghỉ dưỡng và tắm chữa bệnh. - Nhiệt độ không khí: + Tại Thủy Nguyên tổng lượng nhiệt bình quân cả năm đạt 8500°C. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23°C -24°C,cao nhất à 38°C và thấp nhất là 5°C. + Chế độ nhiệt phân thành hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình trên 25°C.
Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch. - Gió: + Từ tháng 12 đến tháng 4 là gió Đông Nam chiếm ưu thế, tốc độ gió trung bình đạt từ 5,4 – 5,9m/s. + Từ tháng 9 đến tháng 10 là gió Bắc và Đông Bắc thổi mạnh, tốc độ trung bình từ 5,6 đến 6,3m/s. Sự có mặt của gió mùa Đông Bắc đã gây cản trở cho việc kéo dài thời gian hoạt động du lịch.
- Mưa và độ ẩm: + Lượng mưa trung bình năm là 162mm, năm cao nhất đạt 1700mm. + Độ ẩm không khí bình quân đo được là khoảng 82 -85%. Trịnh Thị Giang _ VH 1004 20 Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng 2.3- Địa hình - Địa hình Thủy Nguyên chia làm 3 vùng: +Vùng núi đá vôi - đá silic ở phía bắc huyện, được ngăn cách với các vùng khác bởi con sông Giá, chạy liên tiếp từ Trại Sơn - Doãn Lại đến Minh Tân - Minh Đức, chiếm diện tích 950 ha. +Vùng núi đá sa thạch trải dài từ An Sơn - Phù Ninh qua Kỳ Sơn - Chính Mỹ tới Thủy Đường - Ngũ Lão,tiếp cận với bến Rừng, xen kẽ nhiều gò bãi, cánh đồng cát pha và thịt nhẹ, chiếm diện tích 1714 ha.
+Vùng đồng bằng phía đông nam màu mỡ trải dài từ Hợp Thành - Cao Nhân tới Lâm Động - Tân Dương, Tam Hưng - Lập Lễ.Ngoài đất thịt (nặng và trung bình) phù hợp với việc trồng cây lương thực,cây ăn quả, rau màu,còn có loại đất mặn ven các triền sông Cấm, sông Bạch Đằng thích hợp với các loại cây cói, sú,vẹt và nhiều loại hải sản khác.4- Thuỷ văn Thủy Nguyên như một hòn đảo nằm trong vòng ôm của những dòng sông. Phía Bắc và Đông là sông Đá Bạc và Bạch Đằng. Phía Tây là sông Kinh Thầy và sông Hàn Mấu. Phía Nam là sông Cấm.
Nằm ngang huyện là sông Giá, nay đã trở thành hồ, với trữ lượng nước trên 3 triệu km³ chạy dài từ Đông sang Tây. Trong nội địa vùng đất còn có một hệ thống kênh mương chạy chằng chịt. Các dòng sông chính chảy qua phần đất Thuỷ Nguyên đều là phần hạ lưu và chi lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình, gồm: sông Bạch Đằng (30km), sông Kinh Thầy (27km), sông Hàn (8km), sông Ruột Lợn (5km) và sông Gía. Đặc biệt, sông Bạch Đằng là nơi ghi dấu những chiến công lừng lẫy trong lịch sử đấu tranh của dân tộc (năm 939 Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, năm 1288 chiến thắng Nguyên - Mông).2- Lịch sử Thuỷ Nguyên là vùng đất cổ, ban đầu được gọi là Nam Triệu Giang, nằm trong vùng An Biên do nữ tướng Lê Chân cai quản.
Từ thế kỷ XV được gọi là huyện Thủy Đường thuộc phủ Tân An, châu Đông Triều. Đến triều vua Trịnh Thị Giang _ VH 1004 21 Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Đồng Khánh(1886) do kiêng tên huý đã đổi tên thành Thuỷ Nguyên. Đến đời vua Duy Tân (1908) đưa về thuộc tỉnh Kiến An, sau đó được sát nhập vào Hải Phòng. Từ lịch sử xa xưa, Thủy Nguyên là nơi trung gian quá cảnh đi nhiều vùng miền khác nhau bằng cả đường bộ và lẫn đường thủy.
Qua các di chỉ khảo cổ cho thấy nơi đây nằm trên đường đi lại của buôn bán giao lưu giữa khu vực chợ Vân Đồn và các thương nhân vùng Đông Á và Đông Nam Á. Lịch sử Trung Quốc ghi lại các tổng Yên Khoái, Vạn Ninh huyện Nghiêu Phong (Cát Hải) dùng thuyền đi lại thông thương với các miền Mỹ Giang ( hồ Sông Giá ), tỉnh Hải Dương và Khâm Châu (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Thưở ấy, Thủy Nguyên đã hình thành một hệ thống chợ khá sầm uất, đặc điểm khác biệt lớn nhất là các chợ này đều gần sông rất thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa như : chợ Giá, chợ Tổng, chợ Phục, chợ Chiều (Mỹ Sơn)… Đời vua Hùng thứ VI, Nhà nước Văn Lang bị giặc Ân xâm phạm. Hai anh em Vũ Hồng, Vũ Lê Thị Hoa đã cùng nhân dân Thanh Lãng (Quảng Thanh)tham gia đánh đuổi quân thù.
Đến đời Hùng Duệ Vương, nhân dân Thủy Nguyên dưới sự chỉ huy của Phạm Hoằng, Cao Thế, cũng đóng góp nhiều công lao to lớn.Năm 40, cuộc khởi nghĩa Mê Linh do Trưng Trắc- Trưng Nhị lãnh đạo, cả ba anh em họ Trương (Liên Khê) tham dự. Viên quan lang họ Đỗ với sự hỗ trợ của Sĩ Quyền và nhân dân Đông Lý, Thái Lai đã tham dự vào sự nghiệp cứu nước oai hùng ngày ấy… Trong kỷ nguyên đầu của đất nước, chính trên dòng sông Bạch Đằng đã diễn ra 3 trận chiến đánh đuổi quan xâm lược, trong đó phải kể đến trận đánh của Ngô Quyền (năm 938). Từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủy Nguyên trở thành một cơ sở hoạt động của cách mạng. Nhiều tài liệu sách báo bí mật được thủy thủ đưa từ nước ngoài về qua Cảng, và Thủy Nguyên đã trở thành cầu nối hai trung tâm cách mạng Hải Phòng - Hòn Gai.
Năm 1940, Chi bộ Trịnh Thị Giang _ VH 1004 22 Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Đảng cộng sản được thành lập ở Dưỡng Động, khi Việt Minh phát triển mạnh ở Thủy Nguyên thì phong trào cách mạng ở đây trở nên sâu rộng. Ngày 16/8/1945, trên 1000 quần chúng cách mạng đã chiếm huyện lỵ ở Trịnh Xá giành chính quyền. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Thủy Nguyên đã lập nhiều chiến công mới. Ngày 25/10/1948, với chiến dịch phá tề trừ gian, tấn công đồn giặc, phát động chiến tranh du kích đã đưa toàn bộ huyện Thủy Nguyên đứng lên đánh giặc, dân chúng vác cờ đi diễu phố, đàn bà cầm đòn gánh đi đánh Tây”(Cứu quốc 6/12/1948) là một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ.
Trong vngf gần 3 năm (1948 - 1951), Thủy Nguyên đã phá hàng trăm cuộc càn quét của giặc, bẻ gãy nhiều cuộc tấn công có quy mô lớn của chúng. Trong thời gian 300 ngày tập kết đảng bộ và nhân dân Thủy Nguyên lại tiếp tục đấu tranh với địch trên nhiều lĩnh vực, bảo vệ thành quả của 9 năm khánh chiến anh dũng. Sau hơn 10 năm xây dựng hòa bình, ngày 23/8/1965, bom đạn giặc Mỹ lại trút xuống Thủy Nguyên. Cũng từ đó quy mô cuả cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng trở nên ác liệt.