Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Hải Phòng giữ vị thế là một trong 10 trung tâm du lịch lớn của cả nước, đô thị loại I cấp quốc gia và là cực tăng trưởng quan trọng trong Tam giác kinh tế phía Bắc. Mặc dù sở hữu hệ thống tài nguyên phong phú gồm cả tự nhiên và nhân văn, hoạt động du lịch tại Hải Phòng trong thời gian dài bộc lộ sự mất cân đối rõ rệt: chủ yếu tập trung khai thác tài nguyên tự nhiên và nghỉ dưỡng biển tại Cát Bà, Đồ Sơn; khối tài nguyên du lịch nhân văn đồ sộ chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chịu tính mùa vụ cao và thời gian lưu trú của du khách ngắn.

Huyện Thủy Nguyên là địa bàn đồng bằng ven biển nằm ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, sở hữu mật độ tài nguyên du lịch nhân văn cao nhất trong các đơn vị hành chính cấp quận, huyện của thành phố. Quy hoạch phát triển du lịch Hải Phòng đến năm 2020 đã xác định Thủy Nguyên là một trong 3 cụm du lịch trọng điểm. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Trịnh Thị Giang (lớp VH 1004) thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo cứu tiềm năng du lịch nhân văn tại huyện Thủy Nguyên; qua phân tích, đánh giá thực trạng khai thác để xác lập các định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn, thúc đẩy kinh tế địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:

  1. Tổng quan những vấn đề lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và xu hướng phát triển du lịch hiện nay.
  2. Tìm hiểu về tài nguyên du lịch nhân văn, tình hình hoạt động du lịch và du lịch văn hoá ở huyện Thuỷ Nguyên trong thời gian qua.
  3. Đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh sự phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thuỷ Nguyên trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu là tài nguyên du lịch nhân văn và hoạt động phát triển du lịch văn hóa. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn huyện Thủy Nguyên gồm 2 thị trấn (Núi Đèo, Minh Đức) và 35 xã trực thuộc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khái niệm du lịch và tài nguyên du lịch: Tiếp cận theo Luật Du lịch Việt Nam, Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, giáo trình của Nguyễn Minh Tuệ và lý thuyết định hướng tài nguyên của Projnik (Nhập môn khoa học du lịch).
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Trích dẫn Điều 13 Luật Du lịch Việt Nam và Luật Di sản Văn hóa, phân định thành hai nhóm: Di sản văn hóa vật thể (di tích khảo cổ, di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, ẩm thực) và Di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công, văn hóa nghệ thuật dân gian theo nghiên cứu của Hà Văn Tấn). Nghiên cứu y sinh học của Crucsev Dorn (1981) cũng được dẫn dụng để luận giải vai trò của du lịch đối với sức khỏe con người.

Khóa luận sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chuyên ngành địa lý và văn hóa du lịch:

  • Phương pháp nghiên cứu thực địa (điền dã): Thu thập tư liệu thực tế tại các điểm di tích, làng nghề, cơ sở lưu trú và lễ hội trên địa bàn 37 xã, thị trấn của huyện Thủy Nguyên.
  • Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp - so sánh: Xử lý các chuỗi số liệu kinh tế - xã hội, dữ liệu lượng khách và đánh giá phân hạng mức độ hấp dẫn của các điểm tài nguyên.
  • Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính Hải Phòng, bản đồ phân bố di tích lịch sử văn hóa, bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn và bản đồ tổ chức không gian tuyến điểm du lịch để trực quan hóa không gian nghiên cứu.

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội huyện Thủy Nguyên (giai đoạn 1998 - 2004), tài liệu nghiên cứu của Viện Khảo cổ học và số liệu lưu trữ tại Ban quản lý các di tích cơ sở.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và xu hướng phát triển du lịch hiện nay

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về tài nguyên du lịch và các mối quan hệ liên ngành:

  • Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn: Mang tính phổ biến, tính truyền đạt cao, tính tập trung tại các khu dân cư và không bị chi phối nghiêm ngặt bởi tính mùa vụ như tài nguyên tự nhiên.
  • Mối quan hệ đa chiều: Luận giải tác động qua lại giữa du lịch với xã hội, văn hóa, môi trường, kinh tế và an ninh chính trị. Du lịch vừa là động lực bảo tồn di sản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa tiềm ẩn nguy cơ quá tải điểm đến và xói mòn bản sắc nếu thiếu quy hoạch.
  • Các xu hướng phát triển du lịch đương đại: Tác giả chỉ ra 4 xu hướng vận động chính của du lịch thế giới gồm: sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách; quá trình xã hội hóa/quần chúng hóa thành phần du khách; mở rộng địa bàn du lịch từ trục Bắc - Nam sang trục Đông - Tây (khu vực Châu Á - Thái Bình Dương); nỗ lực kéo dài thời vụ du lịch. Trong đó, du lịch văn hóa trở thành loại hình thế mạnh của các quốc gia đang phát triển.

Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở huyện Thủy Nguyên

Chương này tập trung khảo sát toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên văn hóa của huyện Thủy Nguyên:

  • Vị trí và địa hình: Diện tích tự nhiên 242,8 km² (năm 2004), gồm 3 tiểu vùng địa hình: vùng núi đá vôi - đá silic phía Bắc (950 ha), vùng núi đá sa thạch (1.714 ha) và vùng đồng bằng phù sa màu mỡ phía Đông Nam. Thủy văn nổi bật với hệ thống sông bao bọc: sông Bạch Đằng (30 km), sông Kinh Thầy (27 km), sông Hàn (8 km), sông Ruột Lợn (5 km) và hồ Sông Giá trữ lượng trên 3 triệu m³.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số đạt 284.400 người (mật độ 1.171 người/km²). Giai đoạn 1998 - 2002 ghi nhận chuyển dịch cơ cấu rõ nét: tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 58% xuống 47,9%, công nghiệp - xây dựng tăng từ 11,9% lên 26,4% (giá trị sản xuất đạt 182 tỷ đồng năm 2002, gấp 3,4 lần năm 1998). Cơ sở hạ tầng có các công trình lớn như cầu Bính (1.280 m), cầu Kiền (1.186 m), cầu Đá Bạc (700 m), Quốc lộ 10.
  • Hệ thống di tích lịch sử văn hóa: Toàn huyện có khoảng 130 di tích (mật độ trung bình 1 di tích/km²), trong đó có 17 di tích cấp thành phố và 23 di tích cấp quốc gia.
STT Tên di tích Địa điểm Loại hình di tích Thời gian lễ hội (Âm lịch)
1 Cụm di tích Tràng Kênh - Bạch Đằng Thị trấn Minh Đức Lịch sử - Danh lam 6 - 7 tháng Giêng
2 Đền, chùa Trịnh Xá Trịnh Xá, Thiên Hương Lịch sử - Văn hóa 23 - 24 tháng 2
3 Đền Trịnh Hưởng Trịnh Xá, Thiên Hương Lịch sử - Văn hóa 17 - 20 tháng 2
4 Đền, chùa Hoàng Pha Hoàng Pha, Hoàng Động Lịch sử - Văn hóa 13 - 14 tháng Giêng
5 Đình Kiền Bái Xã Kiền Bái Kiến trúc nghệ thuật 9 - 12 tháng Giêng
6 Đình Đồng Lý Đồng Lý, Mỹ Đồng Lịch sử - Nghệ thuật 8 - 12 tháng Giêng
7 Chùa Nhân Lý Nhân Lý, Cao Nhân Lịch sử - Danh lam 17 - 20 tháng 2
8 Đền Thụ Khê, chùa Thẩm Khê, chùa Mai Động Xã Liên Khê Lịch sử - Văn hóa 20 tháng 8
9 Chùa Dưỡng Chung, hang Vua, hang Áng Vải Xã Minh Tân Lịch sử - Văn hóa 15 tháng Giêng
10 Đền Quảng Cư Quảng Cư, Quảng Thanh Lịch sử - Văn hóa 9 tháng 11
11 Đền thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc Thanh Lãng, Quảng Thanh Lịch sử - Văn hóa 6 - 10 tháng 3
12 Đình Thanh Lãng Thanh Lãng, Quảng Thanh Lịch sử - Văn hóa 6 - 10 tháng 3
13 Chùa Câu Tử Nội Câu Tử, Hợp Thành Lịch sử - Văn hóa 15 tháng 4
14 Đình Tân Dương Xã Tân Dương Lịch sử - Văn hóa 20 tháng 2
15 Đền An Lư Xã An Lư Lịch sử - Văn hóa 1 - 6 tháng Giêng
16 Đình Chung Mỹ Xã Trung Hà (Chung Mỹ) Lịch sử - Văn hóa 6 - 7 tháng Giêng
17 Miếu Thủy Tú Xã Thủy Đường (Thủy Tú) Lịch sử - Văn hóa 27 tháng 2
18 Đình, chùa Tây Xã Minh Tân Kiến trúc nghệ thuật 15 tháng Giêng
  • Di chỉ khảo cổ học: Di chỉ Tràng Kênh (công xưởng chế tác đồ đá quý thời kỳ Phùng Nguyên, niên đại trên 3.400 năm) và quần thể 5 mộ thuyền Việt Khê (thuộc văn hóa Đông Sơn, xác định bằng đồng vị carbon C14 có niên đại thế kỷ VI đến thế kỷ IV TCN, chứa nhiều hiện vật đồng thau).
  • Di sản phi vật thể và làng nghề: Nghệ thuật diễn xướng dân gian Hát Đúm tại Phục Lễ (gắn với hội Mở mặt vào tháng Giêng), trò chơi dân gian Đu xuân; làng nghề đúc kim loại Mỹ Đồng (lịch sử gần 200 năm), nghề gốm sứ Minh Tân, mây tre đan Chính Mỹ (80% dân làng tham gia), làng trồng cau Cao Nhân.
  • Công trình đương đại: Dự án Sông Giá Complex Resort và sân golf 27 lỗ (diện tích 323.871 m² tại Lưu Kiếm).
  • Đánh giá phân hạng tài nguyên:
    • Mức độ rất hấp dẫn: Đền thờ Lê Ích Mộc, đền Trần Quốc Bảo, đình Kiền Bái, lễ hội Hát Đúm, hội Đu xuân, di chỉ Việt Khê, di chỉ Tràng Kênh, làng nghề đúc Mỹ Đồng, mây tre đan Chính Mỹ, cau Cao Nhân.
    • Mức độ trung bình: Chùa Câu Tử Ngoại, chùa Lâm Động, chùa Lôi Động, cụm di tích Liên Khê, điểm du lịch xã Minh Tân.
    • Mức độ kém hấp dẫn: Các điểm di tích đơn lẻ tại Hòa Bình, Lưu Kiếm, Kênh Giang, Tân Dương.

Chương 3: Tình hình khai thác tài nguyên du lịch nhân văn huyện Thủy Nguyên phục vụ cho phát triển du lịch

Chương 3 phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và khai thác điểm đến:

  • Các loại hình du lịch đang khai thác: Tham quan danh lam thắng cảnh (hang Vua, hang Lương, du thuyền sông Giá); tham quan di tích lịch sử văn hóa (đền Trần Quốc Bảo, đình Kiền Bái, đền Lê Ích Mộc); du lịch kết hợp nghiên cứu khảo cổ học (Việt Khê, Tràng Kênh, bãi cọc Bạch Đằng).
  • Thực trạng luồng khách du lịch:
    • Đền Trần Quốc Bảo đón bình quân 30.000 lượt khách/năm (khách quốc tế chiếm 3%).
    • Đình Kiền Bái đón khoảng 20.000 lượt khách/năm (khách quốc tế chiếm 5%).
    • Làng nghề cau Cao Nhân đón trên 1.000 lượt khách/năm (khách quốc tế chiếm 10%; riêng tháng 3/2010 đón 60 khách quốc tế).
    • Khách nội địa chủ yếu là học sinh, sinh viên và khách hành hương từ Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nội vào dịp lễ hội đầu xuân. Khách quốc tế chủ yếu là chuyên gia, lao động nước ngoài (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Philippines) làm việc tại các khu công nghiệp ở Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên.
  • Hạn chế về hạ tầng và dịch vụ: Huyện chưa có cơ quan chuyên trách thống kê du lịch. Cơ sở lưu trú nghèo nàn với chỉ 3 khách sạn tư nhân (City View ở Tân Dương, Toàn Minh ở Núi Đèo, My Sơn ở Minh Đức), tiện nghi đạt mức trung bình đến 2 sao, vị trí nằm xa các cụm di tích trọng điểm; hệ thống đường giao thông tiếp cận một số di tích còn chật hẹp.

Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thuỷ Nguyên trong thời gian tới

Từ kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp định hướng:

  • Nâng cao nhận thức xã hội và xác định du lịch văn hóa là một ngành kinh tế quan trọng của huyện; thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi, thống kê hoạt động du lịch.
  • Đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông kết nối các tuyến điểm, mở rộng đường vào các di tích xếp hạng quốc gia; nâng cấp chất lượng cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống.
  • Quy hoạch không gian du lịch theo các cụm điểm liên hoàn (cụm Bạch Đằng - Tràng Kênh, cụm di tích khảo cổ - làng nghề); kết nối tour du lịch văn hóa Thủy Nguyên với tuyến du lịch tâm linh vùng phụ cận (Yên Tử, Cửa Ông).
  • Bảo tồn tính nguyên gốc của di tích lịch sử và khôi phục không gian văn hóa lễ hội truyền thống (Hát Đúm Phục Lễ, hội Đu xuân); hỗ trợ công nghệ và thị trường tiêu thụ cho các làng nghề truyền thống gắn với trải nghiệm du lịch.
  • Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại chỗ và đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến hình ảnh du lịch Thủy Nguyên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể về tài nguyên văn hóa và hoạt động du lịch tại Thủy Nguyên:

Tiêu chí Số liệu ghi nhận trong khóa luận
Tổng số di tích lịch sử văn hóa Khoảng 130 di tích (mật độ 1 di tích/km²)
Di tích xếp hạng cấp quốc gia 23 di tích
Di tích xếp hạng cấp thành phố 17 di tích
Niên đại di chỉ Tràng Kênh Trên 3.400 năm (thời Phùng Nguyên)
Niên đại mộ thuyền Việt Khê Thế kỷ VI - Thế kỷ IV TCN (văn hóa Đông Sơn)
Lượng khách đền Trần Quốc Bảo ~30.000 lượt khách/năm (3% quốc tế)
Lượng khách đình Kiền Bái ~20.000 lượt khách/năm (5% quốc tế)
Cơ sở lưu trú du lịch 3 khách sạn tư nhân (City View, Toàn Minh, My Sơn)

Về mặt học thuật và thực tiễn, đề tài là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn trên toàn bộ 37 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Thủy Nguyên. Tác giả đã chứng minh bằng số liệu thực địa về mật độ di tích và giá trị khảo cổ độc bản của địa phương, đồng thời chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng lưu trú và quản lý du lịch, cung cấp cơ sở luận cứ cho việc triển khai quy hoạch cụm du lịch Thủy Nguyên theo định hướng phát triển của thành phố Hải Phòng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài xuất phát từ phạm vi nghiên cứu địa bàn đơn nhất và tính sẵn có của nguồn dữ liệu: tại thời điểm nghiên cứu, huyện Thủy Nguyên chưa có bộ phận chuyên trách quản lý và thống kê du lịch, dẫn đến dữ liệu về doanh thu và lượng khách tổng thể chưa thể thống kê toàn diện mà phải dựa trên số liệu ghi chép cục bộ tại các ban quản lý di tích riêng lẻ.

Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào việc thiết kế chi tiết các tuyến du lịch liên tỉnh kết nối di sản Thủy Nguyên với vùng phụ cận (Hải Dương - Quảng Ninh), đồng thời xây dựng mô hình đánh giá sức chứa du lịch và tác động môi trường tại các khu vực nhạy cảm như quần thể di tích Tràng Kênh - sông Bạch Đằng.


Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Địa lý du lịch và Việt Nam học tham khảo về phương pháp điền dã, khảo tả và phân loại tài nguyên du lịch nhân văn cấp huyện.
  • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch địa phương tại Hải Phòng sử dụng trong công tác thống kê di tích, lập hồ sơ di sản và xây dựng đề án phát triển du lịch nông thôn, du lịch làng nghề.
  • Phần đáng tham khảo nhất là bảng danh mục di tích quốc gia, các tư liệu điền dã về di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh - mộ thuyền Việt Khê, cùng khảo tả chi tiết về nghệ thuật diễn xướng Hát Đúm tại làng Phục Lễ.

Câu hỏi thường gặp

1. Mật độ di tích lịch sử văn hóa tại huyện Thủy Nguyên được thống kê trong khóa luận là bao nhiêu?
Theo thống kê trong văn bản, toàn huyện có khoảng 130 di tích lịch sử văn hóa phân bố trên diện tích 242,8 km², đạt mật độ trung bình 1 di tích/km². Trong đó có 23 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 17 di tích xếp hạng cấp thành phố.

2. Di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh và mộ cổ Việt Khê có những giá trị đặc trưng nào?
Di chỉ Tràng Kênh (thị trấn Minh Đức) là công xưởng chế tác đồ trang sức bằng đá quý quy mô lớn thời kỳ Phùng Nguyên, có niên đại trên 3.400 năm. Nhóm 5 mộ thuyền Việt Khê (xã Phù Ninh) thuộc văn hóa Đông Sơn có niên đại thế kỷ VI - IV TCN, được chế tác từ thân cây gỗ lớn khoét rỗng hình lòng máng dài 4,6 m, chứa nhiều hiện vật đồng thau tinh xảo.

3. Thực trạng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tại Thủy Nguyên tại thời điểm khảo sát như thế nào?
Toàn huyện chỉ có 3 khách sạn tư nhân gồm khách sạn City View (xã Tân Dương), khách sạn Toàn Minh (thị trấn Núi Đèo) và khách sạn My Sơn (thị trấn Minh Đức) với mức độ tiện nghi từ trung bình đến 2 sao. Các cơ sở này có số lượng ít, chất lượng hạn chế và phân bố xa các trọng điểm di tích.

4. Lượng du khách đến các điểm di tích tiêu biểu tại Thủy Nguyên được ghi nhận ra sao?
Đền Trần Quốc Bảo đón khoảng 30.000 lượt khách/năm (3% khách quốc tế); đình Kiền Bái đón khoảng 20.000 lượt khách/năm (5% khách quốc tế); làng nghề trồng cau Cao Nhân đón trên 1.000 lượt khách/năm (10% khách quốc tế). Du khách nội địa tập trung đông vào mùa lễ hội đầu năm; khách quốc tế chủ yếu là chuyên gia nước ngoài làm việc tại các khu công nghiệp lân cận.

5. Nguồn gốc và đặc trưng diễn xướng của nghệ thuật Hát Đúm ở Thủy Nguyên là gì?
Hát Đúm hình thành từ môi trường lao động nông nghiệp và nghề dệt vải tại làng Phục Lễ. Do điều kiện lao động ven biển nắng gió, phụ nữ có tập quán trùm khăn bịt mặt; chỉ đến hội xuân (hội Mở mặt) các cô gái mới mở khăn để hát đối đáp giao duyên với nam giới qua các làn điệu chào hỏi, thách đố và tiễn biệt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Thị Giang đã khái quát bức tranh toàn cảnh về tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng tại huyện Thủy Nguyên, từ di chỉ khảo cổ, hệ thống di tích lịch sử đến làng nghề và văn hóa dân gian. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa tiềm năng văn hóa đồ sộ với hiệu quả khai thác kinh tế du lịch còn thấp và sự yếu kém của cơ sở hạ tầng lưu trú. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho định hướng phát triển du lịch văn hóa bền vững tại thành phố Hải Phòng.