Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan * Lễ hội Lễ hội ra đời từ sinh hoạt văn hóa mang dấu ấn cộng đồng đậm nét, là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, là nét đẹp được hình thành từ bao đời nay nhằm thỏa mãn nhu cầu hướng về cội nguồn, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử đã có công dựng nước và giữ nước. Cụm từ “Lễ hội” vốn được ghép bởi hai từ Hán - Việt đó là Lễ và Hội, do vậy lễ hội thường có hai phần, phần lễ và phần hội. Lễ và Hội là một thể thống nhất không thể tách rời.
Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội. Lễ là cốt lõi, là phần quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thần, thánh được coi là linh hồn của lễ hội. Hội là các hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nảy sinh, tích hợp và bảo lưu trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nếu môi trường tín ngưỡng tôn giáo bị loại bỏ thì bản thân các sinh hoạt văn hóa cũng không thể tồn tại[1]. Trong cuốn Kho tàng lễ hội cồ truyền Việt Nam do nhóm tác giả Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang viết năm 2000 đã quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là một hoạt động sinh hoạt cộng đồng, một nét đặc trưng của đời sống tâm linh, phản ánh phong tục tập quán của người dân Việt Nam.
Lễ và Hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách. Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo. Hội là phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi người, của cộng đồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội [20, tr.
Tác giả Đoàn Văn Chúc lý giải lễ hội như sau: Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội hay tự nhiên, tưởng tượng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành theo nghi điểm rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, tùy 13 thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ. Hội là cuộc vui chơi với vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên, xã hội nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ [23, tr. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc”[61, tr.
Tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước”[39, tr. Như vậy về cơ bản, các nhà nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về lễ hội nhưng tất cả đều khẳng định lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng, bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ là hệ thống những hành vi, nghi thức, tác động nhằm biểu hiện sự tôn kính với thần linh, phản ánh ước mơ chính đáng của một cộng đồng. Phần hội là hoạt động tập thể liên quan đến tín ngưỡng chung của cộng đồng; Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Từ các khái niệm đã nêu của một số nhà nghiên cứu đi trước, tác giả có kế thừa và đưa ra quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là dịp tập hợp một nhóm cộng đồng cư dân nhất định, ở một không gian cụ thể, trước là để thực hành các nghi thức, nghi lễ, sau là cùng nhau vui chơi trong các hoạt động hội mang đặc trưng vùng miền. * Lễ hội dân gian Lễ hội dân gian, một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đặc trưng mang tính tổng hợp cao về phong tục tập quán, tôn giáo tính ngưỡng, văn học nghệ thuật, các chi thức khoa học kỹ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan, cho tới lối sống, cách sống….thể hiện tập trung qua các dạng thức sinh hoạt Lễ và Hội do nhân dân tiến hành tại một địa phương, đơn vị ở vào một thời điểm nhất định nào đó. Lễ 14 hội dân gian là loại hình sinh hoạt cộng đồng có nguồn gốc từ trước và trong xã hội nông nghiệp cổ truyền nhưng cho đến nay lễ hội dân gian vẫn được xem là sự tập hợp, nâng cao các hoạt động văn hóa dân gian mang tính tập trung, nổi bật nhất trong đời sống văn hóa của các tộc người mà qua đó mọi khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc có thể được thể hiện rõ rệt. Lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt văn hóa rất phổ biến, nổi bật của con người được diễn ra dưới nhiều hình thức hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của con người, thỏa mãn nhu cầu về văn hóa tinh thần của một nhóm người hay của một cộng đồng dân cư nhất định với nhiều mục đích khác nhau[58, tr 5].
Tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng: Lễ hội dân gian là điểm nhấn quan trọng, là mảng màu đặc sắc thể hiện tập trung và đa dạng những nét tinh hoa văn hóa của cộng đồng. Lễ hội dân gian đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, có thời kỳ bị mờ nhạt, bị thay đổi hình thức, nội dung, thậm chí không ít lễ hội đã không còn được tổ chức nữa, song trong khoảng hơn hai thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự trở lại sôi nổi của những lễ hội dân gian và lễ hội dân gian trở thành nét văn hóa nổi bật trong đời sống văn hóa Việt Nam đương đại. Lễ hội dân gian với những đặc điểm như sự phong phú, đa dạng, sự chồng xếp nhiều màu sắc văn hóa, nhiều hệ thống biểu tượng, sự hòa hợp, thăng hoa, sự hội tụ tính thiêng với tính nghệ thuật, tính nghi thức với những giá trị như cố kết cộng đồng, hướng về nguồn cội, cân bằng đời sống tâm linh, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, thẩm mỹ, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc…đã trở thành điều không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng[37]. Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Phương Châm: Lễ hội dân gian vốn là thuật ngữ được dùng để chỉ những lễ hội của dân chúng, trong đó phổ biến nhất là những lễ hội ở các làng quê do những người dân quê tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và tín ngưỡng của họ.
Chính vì vậy, lễ hội dân gian còn được xem là hội làng và có nhiều tên gọi khác nữa như: lễ hội làng, lễ hội truyền thống, lễ hội cổ truyền…những khái niệm này không hẳn là giống nhau hoàn toàn về nội hàm. Có thể hiểu lễ hội dân gian là sản phẩm văn hóa quần chúng của một cộng đồng (phổ 15 biến là cộng đồng làng hay nhiều làng) cùng thờ một vị thần nào đó vào một thời gian nhất định trong năm, ở một địa điểm cụ thể người ta tiến hành những nghi thức thờ phụng tập thể như tế, lễ, rước, sau đó là các hoạt động vui chơi, ăn uống nhằm cố kết cộng đồng, giải tỏa căng thẳng, củng cố niềm tin và sức mạnh cho mỗi thành viên. Lễ hội dân gian ở mỗi vùng miền, mỗi tộc người có những sự khác nhau tạo nên một bức tranh lễ hội đa màu sắc của xã hội Việt Nam đương đại[21, tr 53]. Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã khái niệm: “Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”[17].
Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội văn hóa dân gian tùy vào cách tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào của người nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể hiểu: lễ hội dân gian là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán. * Quản lý Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của quản lý càng tăng lên. Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc. Theo nghĩa thông thường, phổ biến nhất: “Quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra”[43, tr. 16 Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý.
Về khái niệm quản lý, tác giả Cao Đức Hải quan niệm: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [30].