mở đầu của một ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển xã hội, đều hướng tới Tổ quốc thiêng liêng. Điều đó thật là cần thiết đối với bất kỳ một thế hệ nào của đất nước. Nếu phần nghi lễ được tổ chức quản lý tốt sẽ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa linh thiêng ảnh hưởng sâu sắc đến cộng đồng người đi hội. Theo đó, những người đứng ra tổ chức hội phải chuẩn bị thật công phu, sinh động, phải dự liệu trước về chương trình, nghi thức, trò vui, với mọi cân nhắc về ngày giờ, địa điểm hội, những con người hết sức cụ thể cho đến quần áo, cờ, đèn… khả năng kinh phí, kể cả dự kiến thời tiết thuận lợi và khó khăn cho ngày hội.
Phần hội xuất hiện phải có thời điểm riêng của nó. Trong ngày hội, dù là hội lớn hay nhỏ bao giờ cũng có hai đối tượng: người chơi, hay người diễn và người xem. Hai đối tượng đó chuyển hóa vị trí linh hoạt, tự nguyện, sáng tạo thì hội sẽ thành công lớn. Trong lễ hội, người già đi lễ, tuổi trẻ đi chơi, đi dạo, gặp bạn…hành vi và phương thức giao tiếp của từng người, từng tuổi có khác nhau, nhưng có một mẫu số chung là sự giao tiếp có văn hóa ở nơi có ý nghĩa cao đẹp nhất, tiêu biểu nhất của quê hương mình, thành phố mình.
Như vậy lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội truyền thống, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này. Và ta thấy chủ thể của lễ hội cổ truyền là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, 15 cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.
Ba đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival. Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu sự tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo. Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có những biểu hiện của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh xã hội. Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phục hồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay.
Việc phục dựng, làm mất đi các đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm biến dạng và phá hoại các lễ hội đó. - Bảo tồn, phát huy, khai thác Khái niệm về thuật ngữ “Bảo tồn” và “phát huy” ở đây có thể hiểu theo nghĩa gốc và nghĩa mở rộng. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, bảo tồn có nghĩa là “Giữ lại không để mất đi” [8, tr.64], phát huy là “Làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [32, tr. Còn theo Đại từ điển Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa bảo tồn là “ Giữ nguyên hiện trạng không để mất đi” [36,tr.110], phát huy là “Làm cho tác dụng lan rộng và phát triển thêm” [36, tr.1321] Ở Việt Nam hiện nay, hai thuật ngữ trên thường được dùng trong lĩnh vực văn hóa, mà cụ thể là đối với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó có lễ hội truyền thống.
Như vậy trong giới hạn của đề tài, đề cập đến vấn 16 đề bảo tồn và phát huy ở đây nghĩa là bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống như một di sản văn hóa phi vật thể. Trong cuốn Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam có đưa ra quan điểm như sau: “Bảo tồn được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy di sản có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội” [34, tr.39] Về khái niệm thuật ngữ “Khai thác”, theo Từ điển Tiếng Việt Tường giản và liên tưởng là “Tiến hành hoạt động để thu lấy những nguồn lợi sẵn có trong thiên nhiên”, “Phát hiện và sử dụng những cái có ích còn ẩn giấu hoặc chưa được tận dụng. “Làm cho sinh lợi”, Sử dụng để đạt được lợi ích cao nhất” [10, tr.
Còn theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Tác giả Nguyễn Lân định nghĩa khai thác là “Mở mang để thu lấy nguồn lợi, tìm hiểu cặn kẽ để nắm được tình hình” [25, tr.924] Như vậy, “Khai thác lễ hội” ở đây có thể được hiểu là thông qua nắm bắt và nhận biết những giá trị tốt đẹp vốn có của lễ hội chúng ta có thể sử dụng và phát huy tối đa tiềm lực để mang lại những lợi ích và giá trị mới theo xu thế của thời đại. Cụ thể đối với lễ hội truyền thống như Lễ hội Nguyên Tiêu, chúng ta có thể khai thác để phát triển kinh tế, du lịch góp phần xây dựng và phát triển đất nước trong lĩnh vực Văn hoá – Xã hội. - Quản lý nhà nước về văn hoá Quản lý văn hóa được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên văn hóa) , nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (đảm bảo 17 văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện đời sống người dân. 26] Ở Việt Nam, trong hoạt động quản lý văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa có vai trò quan trọng chi phối hiệu quả của hoạt động này.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật. Chính sách pháp luật được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương, đường lối, phướng hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của của đất nước. Cùng với việc tiến hành các chính sách để quản lý văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu. Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu khách quan.
Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Quản lý văn hóa trong xu thế hiện nay là một trong những vấn đề cấp bách nhằm điều chỉnh các hoạt động đi vào nề nếp, đúng chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Văn hóa với nội hàm rộng lớn, bao quát gần như toàn bộ các lĩnh vực của đời sống văn hóa cơ sở, theo đó, quản lý văn hóa cũng trải rộng trên nhiều phương diện như quản lý đời sống văn hóa cơ sở, quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa, quản lý sân khấu biểu diễn, quản lý di sản văn hóa và quản lý lễ hội. - Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống Quản lý nhà nước về lễ hội là quá trình tác động, điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động lễ hội trong đời sống xã hội của con người, làm cho mọi biểu hiện về văn hóa trong lễ hội nhằm vào việc thúc đẩy sự nghiệp văn hóa của nhân dân không ngừng lớn mạnh, môi trường văn hóa lễ hội phù hợp 18 với định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước và góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bùi Hoài Sơn “Quản lý di sản là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của di sản được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung”. Theo Bùi Hoài Sơn: “Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức sự kiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm phát luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương nói riêng và của cả nước nói chung” [40, tr.37] Pham Thị Thanh Quy thì cho rằng: “Quản lý lễ hội bao gồm quản lý nhà nước và những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội. Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huy động các nguồn lực. Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích công cộng, mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước [38, tr.